vanban.org

Bản án 04/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 24/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu để xuất huỷ đối với: + 01(một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình số 128 ngày 20/09/2019 tên đối tượng Quách Thị H. Mép dán có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án “Mua bán trái phép chất ma tuý” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH
Bản án số: 04/2020/HS -ST
Ngày: 24-02-2020

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Kính

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trịnh Thị Thắng và bà Bùi Thị Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Giang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2020. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Quách Thị H, sinh ngày 08/04/1982 tại: Xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm S, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn T (đã chết) và bà Bùi Thị M (đã chết); bị cáo có chồng là Quách Văn L, sinh năm 1978 (đã ly hôn) và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/9/2019 đến ngày 27/9/2019. Hiện bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Quách Thị H: Ông Vũ Đình Hùng – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Phạm Trung K, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Phố T, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).

+ Ông Bùi Văn V, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Xóm Đ, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).

+ Anh Quách Văn Q, sinh ngày 30/07/2002. Nơi cư trú: Xóm S, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( có mặt).

+ Bà Quách Thị M, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Xóm S, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( có mặt).

- Người làm chứng và chứng kiến:

+ Ông Quách Văn H, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Xóm S, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( có mặt).

+ Ông Quách Văn T, sinh năm 1945. Nơi cư trú: Xóm S, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( có mặt).

+ Ông Quách Văn V, sinh năm 1950. Nơi cư trú: Xóm S, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( có mặt).

+ Bà Bùi Thị D, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Xóm C, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình ( có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bản thân không có nghề nghiệp ổn định và hám lời nên khoảng 09 giờ 00, ngày 19/9/2019, Quách Thị H đi xe khách từ nhà đến huyện K, tỉnh Hòa Bình để tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Tại đây, H gặp một người đàn ông không quen biết (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) và mua được 01 (một) gói ma túy với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) sau đó đón xe khách trở về.

Khi về đến nhà H đã chia ma túy mú được thành 07 (bảy) gói nhỏ. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H bán cho một người đàn ông không quen biết 01 (một) gói ma túy với số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng); đến khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, tiếp tục bán cho một người đàn ông không quen biết khác 02 (hai) gói ma túy với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Đến khoảng 17giờ 30 phút cùng ngày, khi Quách Thị H đang cầm trên tay phải 03 (ba) gói ma túy đứng tại đoạn đường thuộc địa phận xóm S, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình đợi người nghiện ma túy đến để bán ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Lạc Sơn, Công an xã Mỹ Thành kiểm tra phát hiện, thu giữ số ma túy H đang cầm trên tay phải. Đồng thời thu giữ trong túi quần bên phải Quách Thị H đang mặc số tiền 5.660.000đ (năm triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Quách Thị H tại xóm S, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình tổ công tác thu giữ 01 (một) gói ma túy tại vị trí nóc tủ quần áo, trong phòng ngủ bên phải cầu thang theo hướng từ dưới lên; 06 (sáu) mảnh giấy nhỏ được cắt sẵn; 01 (một) chiếc kéo có cán bằng nhựa màu cam, lưỡi dao bằng kim loại; 01 (một) chiếc cân điện tử (là các dụng cụ H dùng để chia, gói ma túy để bán kiếm lời).

Ngày 20/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình, giám định chất bộ tmàu trắng được niêm phong trong phong bì đã thu của Quách Thị H. Tại bản kết luận giám định số 240/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 22/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình đã kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong 04 gói giấy trong 02 phong bì niêm phong ghi tên Quách Thị H gửi giám định có tổng khối lượng 0,25g (không phẩy hai mươi lăm gam) là ma túy, loại Heroine. Tổng số tiền thu lời bất chính của Quách Thị H là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) số tiền này nằm trong số tiền tổ công tác Công an thu giữ khi bắt quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn, Quách Thị H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Quách Thị H vào ngày 19/09/2019 do không rõ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng. Nên không có căn cứ để xác minh và xử lý.

Đối với Phạm Trung K, Bùi Văn V là những người mua ma túy của Quách Thị H số ma túy mua được đã sử dụng hết, do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Phạm Trung K, Bùi Văn V. * Vật chứng của vụ án:

- 06 (sáu) mảnh giấy nhỏ được cắt sẵn; 01 (một) chiếc kéo có cán bằng nhựa màu cam, lưỡi dao bằng kim loại; 01 (một) chiếc cân điện tử, đã được niêm phong theo quy định; 04 (bốn) mẫu chất ma túy, loại Heroine (Phong bì quả tang: Gói 1: 0,05g; Gói 2: 0,03g; Gói 3: 0,05g; Phong bì khám xét: 0,02g, có tổng khối lượng 0,15 gam) còn lại sau giám định, đã được niêm phong theo quy định.

- Số tiền 5.660.000đ (năm triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).

Các vật chứng trên hiện chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn bảo quản chờ giải quyết theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 08 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn đã truy tố Quách Thị H về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Lạc Sơn, sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Quách Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Quách Thị H từ 07 đến 07 năm 06 tháng tù; phạt bổ sung số tiền từ 5 đến 10 triệu đồng; đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu để xuất huỷ đối với:

- 06 (sáu) mảnh giấy nhỏ được cắt sẵn; 01 (một) chiếc kéo có cán bằng nhựa màu cam, lưỡi dao bằng kim loại; 01 (một) chiếc cân điện tử;

- 04 (bốn) mẫu chất ma túy, loại Heroine (Phong bì quả tang: Gói 1: 0,05g; Gói 2: 0,03g; Gói 3: 0,05g; Phong bì khám xét: 0,02g, có tổng khối lượng 0,15 gam) còn lại sau giám định, đã được niêm phong theo quy định.

- Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 300.000đ của bị cáo Quách Thị Hoàn do phạm tội mà có; trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp số tiền 5.360.000đ (năm triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng)

Người bào chữa cho bị cáo Ông Vũ Đình Hùng và bị cáo Quách Thị H đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hay yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện Lạc Sơn, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai nhận của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 19/09/2019; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng,biên bản mở niêm phong vật chứng; biên bản khám xét và bản kết luận giám định số 240/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 22/9/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình; lời khai của những người tham gia tố tụng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định:

Trong khoảng thời gian từ 14 giờ đên 16 giờ 30 phút ngày 19/9/2019, tại xóm S, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Quách Thị H thực hiện 02 lần bán ma túy cho các đối tượng Phạm Trung K và Bùi Văn V thu lời bất chính số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), đồng thời còn tàng trữ trái phép trên người và nơi ở 0,25g (không phẩy hai mươi lăm gam) ma túy, loại Heroine nhằm mục đích bán cho các đối đượng nghiện ma túy để kiếm lời. Vì vậy, việc bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời có đủ cơ sở kết luận bị cáo Quách Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo thực hiện thuộc đã trực tiếp xâm hại đến chính sách về quản lý chất gây nghiện của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, đồng thời gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội gây bất bình trong quần chúng nhân dân; Là nguyên nhân làm phát sinh tội, tệ nạn xã hội khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ sai trái do hành vi gây ra. Song vì muốn kiếm tiền một cách bất chính nên bị cáo đã cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy để bán kiếm lời. Do vậy, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện.

Xét nhân thân của bị cáo: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự thú về hành vi phạm tội. Mặt khác bị cáo là người dân tộc thiểu số dân tộc Mường) sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và hiện tại là lao động chính trong gia đình nuôi 03 con, trong đó có con nhỏ nhất sinh tháng 11/2016. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại các điểm r, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự trong quá trình lượng hình. Bị cáo Quách Thị H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với Phạm Trung K, Bùi Văn V và người đàn ông đã bán Heroine cho Quách Thị H ngày 19/09/2019. Xét thấy chưa có cơ sở xem xét, xử lý do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ pháp lý. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần quan điểm bào chữa sẽ xem xét trong quá trình lượng hình.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết cụ thể của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn là cần thiết.

Mặt khác xét thấy việc áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là cần thiết. Do đó áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Quách Thị H.

Về vật chứng vụ án: Xét thấy cần tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng liên quan tới việc mua bán trái phép chất ma túy của Quách Thị H và các mẫu chất ma túy cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau giám định. Đối với số tiền 5.660.000đ (năm triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) đã thu giữ, xét thấy số tiền 300.000đ do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; Đối với số tiền 5.360.000đ (năm triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng), xét thấy không liên quan tới tội phạm và có đủ cơ sở xác định chủ sở hữu hợp pháp, do đó cần tuyên trả cho chủ sở hữu.

Về án phí: Bị cáo Quách Thị H là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn có đơn và ý kiến xin miễn án phí nên có cơ sở miễn toàn bộ án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: + Tuyên bố: Bị cáo Quách Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. + Xử phạt: Bị cáo Quách Thị H 07 (bảy) năm tù, được trừ 09 (chín) ngày bị tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Quách Thị H số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tuyên tịch thu để xuất huỷ đối với: + 01(một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình số 128 ngày 20/09/2019 tên đối tượng Quách Thị H. Mép dán có dấu niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, bên trong chứa 04 (bốn) mẫu chất ma túy, loại Heroine (Phong bì quả tang: Gói 1: 0,05g; Gói 2: 0,03g; Gói 3: 0,05g; Phong bì khám xét: 0,02g, có tổng khối lượng 0,15 gam) cùng toàn bộ vỏ bao còn lại sau giám định. + 06 (sáu) mảnh giấy nhỏ được cắt sẵn; 01 (một) chiếc kéo có cán bằng nhựa màu cam, lưỡi dao bằng kim loại; 01 (một) chiếc cân điện tử trong phong bì niêm phong của Công an huyện Lạc Sơn. Mép dán có dấu niêm phong và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.

- Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000đ do phạm tội mà có của bị cáo Quách Thị H; trả lại số tiền 4.360.000đ (bốn triệu, ba trăm sáu mươi nghìn đồng) cho Bà Quách Thị M, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Xóm S, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình; trả lại số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) cho bị cáo Quách Thị H (Tổng số tiền xử lý trên có trong phong bì niêm phong của Kho bạc nhà nước huyện Lạc Sơn. Mép dán có dấu niêm phong và chữ ký của các thành phần giao nhận).

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa công an huyện Lạc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn ngày 08/01/2020).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quách Thị H.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án hoặc trích lục án được niêm yết công khai hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ