- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phi Q - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự Trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự Tuyên trả
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HS-ST Ngày 16-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hưởng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Chiến
Bà Nguyễn Xuân Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Phi Q, sinh năm 1994, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Phụ giúp gia đình; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phi L và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/01/2019 cho đến ngày 14/01/2020; bị cáo “có mặt”.
Bị hại: Anh Trịnh Quốc C, sinh năm 1973; nơi cư trú: ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh (chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1935; nơi cư trú: ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh “vắng mặt”
Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp: Chị Trịnh Thị N, sinh năm 1963; nơi cư trú: ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh “vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ, ngày 29/9/2019, Nguyễn Phi Q điều khiển xe mô tô biển số 70D1-480.30 đi trên đường ĐT 788 theo hướng từ xã A đi xã P. Khi đi đến đoạn đường thuộc ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh do thiếu quan sát, không giữ khoảng cách an toàn gây tai nạn với xe mô tô biển số: 70L2-1709 do anh Trịnh Quốc C điều khiển đi cùng chiều phía trước. Khi xảy ra tai nạn thì C được Nguyễn Quốc D (là người dân tại nơi xảy ra tai nạn) đưa về nhà. Đến ngày 02/10/2019, Trịnh Văn G, không thấy em ruột là C rời nhà nên đi tìm và phát hiện C tử vong tại nhà, đang trong giai đoạn phân hủy nên trình báo Công an xã A.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1484/KL-KTHS ngày 04/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự -Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Trịnh Quốc C tử vong là do chấn thương sọ não.
Tại Bản kết luận giám định số 1534/KL-KTHS ngày 18/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự -Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất màu đỏ bám dính trên biển số xe mô tô 70L2-1709 có thành phần hóa học cơ bản giống với thành phần hóa học cơ bản của mẫu sơn màu đỏ phủ bên ngoài thu tại vị trí chắn bùn trước và mặt nạ xe mô tô biển số 70D1-480.30.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
01 (Một) xe mô tô biển số: 70L2-1709, loại xe Wave, màu xanh đã qua sử dụng đã trả lại cho người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại chị Trịnh Thị N.
01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, dã qua sử dụng, biển số 70H1-256.5270H1-256.52 trả lại cho Nguyễn Phi Q.
Tiêu hủy đối với mẫu vật còn lại sau giám định: Mẫu sơn màu đỏ phủ bên ngoài thu tại vị trí cung chắn bùn trước và mặt nạ xe mô tô biển số 70D1-480.30.
Tạm giữ 01 giấp phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Phi Q.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình nạn nhân Trịnh Quốc C đã nhận tiền bồi thường của gia đình Nguyễn Phi Q số tiền 100.000.000 đồng và đã có đơn xin bãi nại không yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số: 02/CT-VKSCT ngày 12 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Phi Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình vật chứng thu giữ như nội dung bản Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi Q phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phi Q từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Phi Q không tranh luận.
Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp chị Trịnh Thị N vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của chị N.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Q đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh và không có ý kiến gì khác.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phi Q đã khai nhận hành vi phạm tội: Vào khoản 22 giờ ngày 29/9/2019, Nguyễn Phi Q điều khiển xe mô tô biển số 70D1-480.30 đi trên đường ĐT 788 theo hướng từ xã A đi xã P. Khi đi đến đoạn đường thuộc ấp V, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh do thiếu quan sát, không giữ khoảng cách an toàn gây tai nạn với xe mô tô biển số: 70L2-1709 do anh Trịnh Quốc C điều khiển đi cùng chiều phía trước gây tai nạn anh C được Nguyễn Quốc D (là người dân tại nơi xảy ra tai nạn) đưa về nhà. Đến ngày 02/10/2019 anh C tử vong tại nhà do chấn thương sọ não. Hành vi này của bị cáo Q đã vi phạm quy định tại Điều 12 Luật giao thông đường bộ, gây thiệt hại tính mạng của người khác, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên phải chịu trách nhiệm hình sự là hoàn toàn phù hợp với yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự theo đúng nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Xét lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ như, biên bản hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Phi Q phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo Q là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất của vụ án: Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến các quy định pháp luật về tham gia giao thông đường bộ, xâm phạm nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Song vì coi thường pháp luật, bị cáo đã điều khiển xe mô tô thiếu quan sát, không giữ khoảng cách an toàn gây tai nạn giao thông, hậu quả làm anh C tử vong, gây đau thương, mất mát cho gia đình nạn nhân, lỗi hoàn toàn do bị cáo gây ra nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xét lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đề nghị đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại chị Trịnh Thị N đã nhận số tiền 100.000.000 đồng của bị cáo, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan công an huyện Châu Thành đã trả lại cho người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại chị Trịnh Thị N 01 (một) xe mô tô biển số 70L2-1709, loại xe Wave, màu xanh đã qua sử dụng, trả lại cho bị cáo Nguyễn Phi Q 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, màu đỏ- đen, đã qua sử dụng, biển số 70D1-480.30 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với mẫu vật còn lại sau khi giám định: Mẫu sơn màu đỏ phủ bên ngoài thu lại vị trí cung chắn bùn trước và mặt nạ xe mô tô biển số 70D1-480.30. Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành tiêu hủy không còn không đặt ra xem xét.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phi Q 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Phi Q (bản gốc), (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phi Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/01/2020).
Giao bị cáo Nguyễn Phi Q cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của bộ luật này.
2. Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại chị Trịnh Thị N đã nhận số tiền bồi thường 100.000.000 đồng của gia đình bị cáo Nguyễn Phi Q và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
3.Về xử lý vật chứng:
Ghi nhận người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại chị Trịnh Thị N đã nhận lại 01 (một) xe mô tô biển số 70L2-1709, loại xe Wave, màu xanh đã qua sử dụng.
Ghi nhận bị cáo Nguyễn Phi Q đã nhận lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, màu đỏ- đen, đã qua sử dụng, biển số 70D1-480.30.
Đối với mẫu vật còn lại sau khi giám định: Mẫu sơn màu đỏ phủ bên ngoài thu lại vị trí cung chắn bùn trước và mặt nạ xe mô tô biển số 70D1-480.30. Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành tiêu hủy không còn không đặt ra xem xét.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Phi Q 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Phi Q (bản gốc), (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành).
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Phi Q phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn ) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Phi Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại chị Trịnh Thị N vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - Chi Cục THADS huyện Châu Thành; - Cơ quan điền tra Công an H.Châu Thành; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Châu Thành; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - PV06- Công an Tây Ninh; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng; - - Lưu: Hồ sơ, tập án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thủy Đào Chiến | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã kí) Phan Thị Hưởng Phan Thị Hưởng |