vanban.org

Bản án 04/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Cao Thị My E được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Cao Công D, sinh ngày 31/01/2012 cho bà Cao Thị My E trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Cao Thị My E không yêu cầu ông Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa nguyên đơn Cao Thị My E và bị đơn Nguyễn Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Cao Thị My E được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KHÁNH VĨNH
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HNGĐ-ST
Ngày 22/9/2020
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Hữu Minh Nghĩa

Bà Hà Thị Phương Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xoan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 15/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị My E, sinh năm 1992

Địa chỉ: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

2. B đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/5/2020, lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Cao Th My E trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn C kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã MTN, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc và có 01 con chung tên Nguyễn Cao Công D, sinh ngày 31/01/2012. Sau đó vợ chồng tính tình không hợp, hay xảy ra tranh cãi. Do ông C có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Bà đã nhiều lần bỏ qua cho ông C cơ hội sửa chữa để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con nhưng ông vẫn không thay đổi, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, thực tế bà và ông C không còn sống chung từ năm 2018 cho đến nay nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn C. Về con chung, bà E yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung bà E khai không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn C: Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh đã tiến hành thực hiện các thủ tục triệu tập, xác minh và niêm yết hợp lệ để lấy lời khai theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông C cố tình trốn tránh không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà Cao Thị My E nên Tòa án đưa vụ án ra giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án là đúng theo quy định. Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn C đã được Tòa án triệu tập, xác minh, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông cố tình trốn tránh không có mặt tại tòa để làm việc nhằm bảo vệ quyền lợi cho mình do đó tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông C là đúng theo quy định của pháp luật.

Về thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã thực hiện việc thu thập tài liệu chứng cứ theo quy định.

Về nội dung vụ án: Về hôn nhân, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn; Về con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung Nguyễn Cao Công D, sinh ngày 31/01/2012 cho nguyên đơn bà Cao Thị My E trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Về tài sản chung, nợ chung: Bà Cao Thị My E khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Văn C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt; Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết tại địa phương và nơi cư trú, do đó Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với qui định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà Cao Thị My E và ông Nguyễn Văn C tự nguyện kết hôn năm 2015, đăng ký kết hôn tại UBND xã MTN, huyện C, tỉnh Tiền Giang và đã được Ủy ban nhân dân xã cấp giấy chứng nhận kết hôn số 47/2015 ngày 24/4/2015. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà E và ông C là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, giữa bà E và ông C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm dẫn đến tranh cãi. Ông C có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, bà E đã nhiều lần bỏ qua cho ông cơ hội sửa chữa vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con nhưng ông C vẫn không thay đổi, thậm chính còn chuyển đi chung sống với người phụ nữ khác như vợ chồng. Nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Theo kết quả xác minh tại địa phương ông bà đang sinh sống cho thấy hiện tại hai ông bà không còn sống chung với nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, xuất phát từ những bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng làm rạn nứt tình cảm, việc quan tâm, chăm sóc lẫn nhau không còn và đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, thực tế hai ông bà cũng không còn sống chung từ tháng 5 năm 2018 cho đến nay. Vì vậy, có duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Cao Thị My E đối với ông Nguyễn Văn C.

Về con chung: Bà Cao Thị My E và ông Nguyễn Văn C có 01 con chung tên Nguyễn Cao Công D, sinh ngày 31/01/2012. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Cao Thị My E yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành. Bà E không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Kể từ thời điểm bà E và ông C không còn sống chung, cháu D đang do bà E trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, sau khi ly hôn việc giao con chưa thành niên cho người nào nuôi dưỡng, giáo dục là nhằm mục đích giúp con chưa thành niên phát triển tốt cả về tinh thần lẫn thể chất. Nguyên đơn có đủ điều kiện nuôi con và thực tế đang trực tiếp nuôi con chung, cháu D có nguyện vọng xin được ở với mẹ là bà Cao Thị My E. xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Nguyễn Cao Công D, sinh ngày 31/01/2012 cho bà Cao Thị My E trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Trong quá trình nuôi con nếu gặp khó khăn bà E có quyền làm đơn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con để đảm bảo quyền lợi cho con chung.

Về tài sản chung: Bà Cao Thị My E khai bà và ông Nguyễn Văn C không có tài sản chung nên HĐXX không xét.

Về nợ chung: Bà Cao Thị My E khai bà và ông Nguyễn Văn C không có nợ chung nên HĐXX không xét.

Về án phí: Bà Cao Thị My E phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Cao Thị My E được ly hôn với ông Nguyễn Văn C.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Cao Công D, sinh ngày 31/01/2012 cho bà Cao Thị My E trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Cao Thị My E không yêu cầu ông Nguyễn Văn C cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con; người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Bà Cao Thị My E khai bà và ông Nguyễn Văn C không có tài sản chung nên HĐXX không xét.

4. Về nợ chung: Bà Cao Thị My E khai bà và ông Nguyễn Văn C không có nợ chung nên HĐXX không xét.

5. Về án phí: Bà Cao Thị My E phải nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tại biên lai số AA/2016/0004867 ngày 06 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh. Như vậy bà Cao Thị My E đã nộp đủ án phí.

Quyền kháng cáo: Bà Cao Thị My E có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ

Cỡ chữ