- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Th về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Nguyễn Ngọc L , xử cho bà Lê Thị Th và ông Nguyễn Ngọc L được ly hôn với nhau.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2020/HNGĐ-ST Ngày 14/5/2020. Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Nguyễn Thị Tài.
2. Ông: Đỗ Đức Lâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Ka Hít – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B , tỉnh Lâm
Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B , tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Anh-Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 14 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B , tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 05/2020/TLHNGĐ-ST ngày 09/01/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXX-ST ngày 18/3/2020; quyết định hoãn phiên tòa số 04/2020/QĐDS-ST ngày 28/4/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Th , sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 07, xã L , huyện B , tỉnh Lâm Đồng (Có đơn đề nghị vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc L , sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn 07, xã L , huyện B , tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Tại đơn khởi kiện ngày 02/01/2020, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông L có tìm hiểu yêu nhau được 01 năm thì quyết định đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L , huyện B , tỉnh Lâm Đồng vào ngày 27/4/2011. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc gì, được gia đình hai bên đồng ý có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông L nghiện cờ bạc, lười biếng, không quan tâm, chăm lo cho gia đình từ đó vợ chồng xảy ra cải nhau, hai bên gia đình có khuyên căn nhưng mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2018 cho đến nay, không ai quan tâm ai, nay tình cảm vợ chồng không còn do vậy bà Th yêu cầu được ly hôn với ông L .
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Lê Vy Anh, sinh ngày 07/3/2012 và Nguyễn Lê Đan Thư, sinh ngày 13/11/2018. Ly hôn bà Th có nguyện vọng nhận nuôi cả hai con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn không đến làm việc, không có bất kỳ lời trình bày nào.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự đồng thời đề nghị xử cho bà Th và ông L được ly hôn với nhau; giao con cho bà Th nuôi dưỡng và buộc bà Th phải nộp án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bà Th có đơn đề nghị vắng mặt, ông L vắng mặt lần thứ 2 không có lý do nên áp dụng khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Th và ông L có tìm hiểu yêu nhau và tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L , huyện B , tỉnh Lâm Đồng vào ngày 27/4/2011; hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc gì nên quan hệ hôn nhân của ông, bà là hợp pháp.
Tòa án triệu tập ông L nhiều lần để hòa giải nhưng ông L không đến điều này cho thấy ông L bỏ mặc hôn nhân của mình, không muốn sống chung với bà Th nữa. Qua xác minh tại địa phương thể hiện ông Ủy ban nhân dân xã L , huyện B , tỉnh Lâm Đồng vào ngày 27/4/2011 là người thường xuyên chơi cờ bạc, không quan tâm đến gia đình dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, không hạnh phúc. Điều này cho thấy hôn nhân của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 cần chấp nhận yêu cầu bà Th , xử cho bà Th và ông L được ly hôn với nhau.
Về con chung: Việc giao con cho ai cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con. Xét thấy từ khi ly thân đến nay các con sinh sống với bà Th phát triển bình thường; mặt khác cháu Thư chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của người mẹ. Bà Th là giáo viên có việc làm và thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con. Để không làm xáo trộn nơi ở và môi trường học tập của con nên cần tiếp tục giao các con cho bà Th nuôi dưỡng; bà Th không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung, về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Th về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với ông Nguyễn Ngọc L , xử cho bà Lê Thị Th và ông Nguyễn Ngọc L được ly hôn với nhau.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Vy Anh, sinh ngày 07/3/2012 và Nguyễn Lê Đan Thư, sinh ngày 13/11/2018 cho bà Lê Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; bà Th không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
“Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn cũng như việc thăm nom, chăm sóc con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.”
3. Về án phí: Buộc bà Lê Thị Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0019517 ngày 09/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B , tỉnh Lâm Đồng (Bà Th đã nộp xong).
4. Về quyền kháng cáo: Bà Th , ông L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Đỗ Đức Lâm Nguyễn Thị Tài HỘI THẨM NHÂN DÂN Đỗ Đức Lâm Nguyễn Thị Tài | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Linh THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Linh |