vanban.org

Bản án 04/2020/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 15/09/2020 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Xuân L và bị đơn Đinh Thị Thu H"
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2020/HNGĐ-PT
Ngày: 15-9-2020
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Đoàn

Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Túc.

Bà Bạch Thị Hồng Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung – Thư ký TAND tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Quốc Hùng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 04/2020/TLPT – HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2020 về việc ly hôn do có kháng cáo của Bị đơn chị Đinh Thị Thu H đối với bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 17/2020/HNGĐ-ST ngày 12/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2020/QĐPT – HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân L, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Thôn K, xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Có mặt

- Bị đơn: Chị Đinh Thị Thu H, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Số nH 59, phố Dân Chủ (nay là phố Nghĩa Dân), X,

huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm nội dung thể hiện như sau:

Nguyên đơn anh Nguyễn Xuân L trình bày:

Về tình cảm: Anh và chị Đinh Thị Thu H đăng ký kết hôn lần một vào năm 2001, sau đó đã ly hôn. Đến năm 2012, anh và chị H đăng ký kết hôn lần hai trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc và đăng ký kết hôn tại UBND xã Yên Cường, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

Thời gian đầu chung sống, hai vợ chồng sống hòa thuận, yêu thương nhau, đến giữa năm 2013 thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã xung đột khiến mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không có, đời sống chung không thể kéo dài. Hai vợ chồng đã ly thân từ giữa năm 2013 đến nay. Cho đến thời điểm này, anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Quý Tòa giải quyết ly hôn với chị Đinh Thị Thu H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Anh L và chị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, sinh ngày 15/10/2002 và cháu Nguyễn Tùng Lâm, sinh ngày 19/7/2006. Vợ chồng ly hôn anh L đồng ý để cho chị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, sinh ngày 15/10/2002, anh L có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Tùng Lâm, sinh ngày 19/7/2006. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

Về tài sản chung, công nợ: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh L không có yêu cầu gì thêm.

Bị đơn chị Đinh Thị Thu H trình bày:

Về thời điểm kết hôn và quá trình vợ chồng chung sống như anh L trình bày là đúng. Tình cảm vợ chồng ban đầu chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Từ đầu năm 2013 đến nay hai vợ chồng xảy ra mâu thuẫn bất hòa nguyên nhân là hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã xung đột khiến mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng. Hai vợ chồng li thân từ tháng 06/2013. Anh L đề nghị ly hôn chị H đồng ý.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị H và anh L có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, sinh ngày 15/10/2002 và cháu Nguyễn Tùng Lâm, sinh ngày 19/7/2006. Vợ chồng ly hôn chị H đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung. Chị H đề nghị anh L cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Tùng Lâm 2.000.000đ/tháng từ thời điểm tháng 6/2013 cho đến nay. Nếu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu thì chị H đề nghị anh L cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn với mức cấp dưỡng 2.000.000đ/tháng đối với cháu Lâm, còn cháu Nguyễn Thị Thu Nguyệt thì chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 17/2020/HNGĐ - ST ngày 12/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Quyết định:

Căn cứ Điều 51; Điều 55; Điều 58; Điều 81 , 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Thu H và anh Nguyễn Xuân L.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Tùng Lâm, sinh ngày 19/7/2006 cho anh L tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Lâm đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác; Giao cháu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, sinh ngày 15/10/2002 cho chị H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyệt đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Hai bên chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ người không trực tiếp nuôi con, người trực tiếp nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung, công nợ chung, về án án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18/6/2020, Bị đơn chị Đinh Thị Thu H có đơn kháng cáo Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 17/2020/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giao cháu Nguyễn Tùng Lâm cho chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng.

Ngày 12/8/2020 chị Đinh Thị Thu H có đơn rút kháng cáo về việc yêu cầu chia tài sản chung.

Ngày 17/8/2020 cháu Nguyễn Tùng Lâm có đơn trình bày nội dung: Tha thiết xin được ở với mẹ và chị gái, cháu không muốn ở với bố.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Chị Đinh Thị Thu H trình bày: Chị là giáo viên dạy học có mức thu nhập ổn định hơn 8 triệu đồng/ tháng, chị đã có nH riêng tại thị trấn Vụ Bản và chị có nhiều thời gian để quan tâm chăm sóc giáo dục 02 con chung trong điều kiện tốt nhất, nguyện vọng của cháu Tùng Lâm cũng muốn được ở với mẹ và chị gái, cháu không muốn ở với anh L. Do đó mong Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị và xem xét giao cháu Nguyễn Tùng Lâm cho chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Xuân L trình bày: Hiện nay anh là lái xe đưa đón công nhân tại Công ty cổ phần Lâm sản Nam Định, anh có thu nhập ổn định và chỗ ở ổn định, anh có đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tùng Lâm trong điều kiện tốt nhất. Đề nghị Toà án bác đơn kháng cáo của chị H.

Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Thư ký và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng, đầy đủ những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của Bị đơn Đinh Thị Thu H, sửa Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 17/2020/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình theo hướng giao cháu Nguyễn Tùng Lâm cho chị Đinh Thị Thu H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1].Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo nhận ngày 18/6/2020 của chị Đinh Thị Thu H trong thời gian luật định và hợp lệ.

Đơn kháng cáo ngày 18/6/2020 chị Đinh Thị Thu H kháng cáo xem xét giao cháu Nguyễn Tùng Lâm cho chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng. Ngày 12/8/2020 chị H có đơn rút kháng cáo về việc yêu cầu chia tài sản chung, tại phiên toà chị H rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Theo quy định tại khoản 3 Điều 284 Bộ luật tố tụng dân sự, đơn rút kháng cáo về việc yêu cầu chia tài sản chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị H là hợp lệ. Nên HĐXX chấp nhận và đình chỉ kháng cáo về việc yêu cầu chia tài sản chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị H.

[2].Xét kháng cáo của Bị đơn chị Đinh Thị Thu H về việc yêu cầu được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Tùng Lâm, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Xét về điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của chị Đinh Thị Thu H và anh Nguyễn Xuân L là ngang nhau, tuy nhiên chị Đinh Thị Thu H là giáo viên nên có nhiều thời gian quan tâm đến con chung hơn anh L, hơn nữa trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm và tại phiên toà phúc thẩm nguyện vọng của cháu Nguyễn Tùng Lâm vẫn tha thiết xin được ở với mẹ và chị gái, cháu Tùng Lâm thể hiện rõ quan điểm không muốn ở với anh Nguyễn Xuân L, để đảm bảo về sự phát triển bình thường của cháu và tâm tư nguyện vọng của cháu muốn ở với mẹ, nên cần giao cháu Nguyễn Tùng Lâm cho chị Đinh Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc cấp sơ thẩm giao cháu Nguyễn Tùng Lâm cho anh Nguyễn Xuân L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là chưa phù hợp, chưa xem xét đến nguyện vọng của cháu và chưa đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Nguyễn Tùng Lâm, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị Đinh Thị Thu H, sửa bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 17/2020/HNGĐ –ST ngày 12/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình với nội dung giao cháu Nguyễn Tùng Lâm cho chị Đinh Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Về án phí phúc thẩm: Chị Đinh Thị Thu H không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1]. Chấp nhận kháng cáo của chị Đinh Thị Thu H.

[2]. Sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 17/2020/HNGĐ-ST ngày 12/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Cụ thể:

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Tùng Lâm, sinh ngày 19/7/2006 và cháu Nguyễn Thị Thu Nguyệt, sinh ngày 15/10/2002 cho chị Đinh Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Lâm, cháu Nguyệt đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các tHnh viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Về án phí phúc thẩm: Trả lại chị Đinh Thị Thu H số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002864 ngày 10/12/2019 của Chi cục thi Hnh án dân sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình.

[4]. Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 17/2020/HNGĐ-ST ngày 12/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

[5]. Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 15/9/2020. THNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ