- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn Chỉn L tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tẩn Chỉn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04 /2019/HSST Ngày 27 tháng 02 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Hoàng Thị Sen;
2. Bà: Trần Thị Trúc;
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Sửu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 07/2019/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/HSST ngày 14 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Tẩn Chỉn L (tên gọi khác: Không); Sinh năm1963 (không xác định được ngày tháng sinh); Nơi sinh: Huyện Bát xát, tỉnh Lào Cai. Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Thôn S 1, xã Y , huyện B, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; Con ông: Tẩn Sài L (đã chết); Con bà: Tẩn Lở M (đã chết). Vợ: Phàn Tả M. Con: Có 4 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy.
Bị cáo Tẩn Chỉn L bị bắt, tạm giữ ngày 27/12/2018, tạm giam ngày 02/01/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Tẩn Chỉn L: Bà Đỗ Thị Lan Oanh - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Người phiên dịch: Bà Tẩn Tả Mẩy;
Địa chỉ: Ban dân tộc huyện ủy Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 27/12/2018, Tẩn Chỉn L đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng. Tẩn Chỉn L mang theo số tiền 250.000 (Hai trăm năm mươi nghìn) đồng rồi đi bộ từ nhà đến thôn Hồng Ngài, xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai để tìm mua ma túy. Đi đến nơi, Tẩn Chỉn L gặp một người đàn ông không quen biết, Tẩn Chỉn L hỏi người đàn ông này “Có thuốc phiện bán không”, người này trả lời “Có một ít”. Tẩn Chỉn L liền nói “Bán cho tôi 250.000 đồng” và lấy tiền từ túi áo bên phải ra đưa cho người đàn ông này. Người đàn ông này nhận tiền và đưa cho Tẩn Chỉn L 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong có một mảnh nilon màu trắng chứa nhựa thuốc phiện. Tẩn Chỉn L cầm gói nhựa thuốc phiện cho vào túi áo khoác bên phải đang mặc và đi về nhà. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, hành vi của Tẩn Chỉn L đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát phát hiện cùng toàn bộ tang vật. Thu giữ 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong có một mảnh nilon màu trắng chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen (Tẩn Chỉn L khai nhận là nhựa thuốc phiện mua về để sử dụng cho bản thân).
Quá trình điều tra Tẩn Chỉn L còn khai nhận: Sau khi mua được ma túy, Tẩn Chỉn L đã lấy một ít nhựa thuốc phiện ra sử dụng bằng hình thức hút tại nơi ở của mình. Do chỉ có lời khai của Tẩn Chỉn L ngoài ra không có tài liệu nào khác để chứng minh nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Tẩn Chỉn L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 28/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát đã ra Quyết định trưng cầu giám định về chất ma túy số 15 đối với số vật chứng đã thu giữ của Tẩn Chỉn L ngày 27/12/2018.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 28/12/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã xác định: 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong đựng 01 (một) gói nilon màu trắng chứa chất nhựa dẻo, màu nâu đen có khối lượng là 4,47 (bốn phẩy bốn mươi bẩy) gam. Trích mẫu 2,02 (hai phẩy không hai) gam để tiến hành giám định, còn lại 2,45 (hai phẩy bốn mươi lăm) gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.
Tại bản kết luận giám định số 39/GĐMT ngày 29/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 4,47 (bốn phẩy bốn mươi bẩy) gam chất nhựa dẻo, màu nâu đen gửi thu giữ của Tẩn Chỉn L ngày 27/12/2018 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bát Xát gửi đến giám định là nhựa thuốc phiện.
Bản cáo trạng số 07/VT-VKS ngày 22 tháng 01năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Tẩn Chỉn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã nhận tội, như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo từ 1(một) năm 3 (ba) tháng đến 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 2,45 (hai phẩy bốn mươi lăm) gam nhựa thuốc phiện.
Người bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo từ 1(một) năm tù.
Tại phiên Tòa bị cáo Tẩn Chỉn L thành khẩn khai báo, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử, xử mức án nhẹ nhất để sớm về đoàn tụ gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác đã có trong hồ sơ.
Như vậy Tẩn Chỉn L do nghiện ma túy nên khoảng 14 giờ ngày 27/12/2018, Tẩn Chỉn L mua của một người đàn ông không quen biết tại thôn Hồng Ngài, xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai 250.000 (Hai trăm năm mươi nghìn) đồng 01 (một) gói nilon màu trắng, bên trong có một mảnh nilon màu trắng chứa nhựa màu nâu đen, mục đích về để sử dụng cho bản thân. Tẩn Chỉn L đã có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và khung hình phạt được qui định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ma túy thu giữ của bị cáo có khối lượng là 4,47 (bốn phẩy bốn mươi bẩy) gam. Tại bản kết luận giám định số 39/GĐMT ngày 29/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 4,47 (bốn phẩy bốn mươi bẩy) gam chất nhựa dẻo, màu nâu đen thu giữ của Tẩn Chỉn L là nhựa thuốc phiện. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
Quá trình điều tra Tẩn Chỉn L còn khai nhận: Sau khi mua được ma túy, Tẩn Chỉn L đã lấy một ít nhựa thuốc phiện ra sử dụng bằng hình thức hút tại nơi ở của mình. Do chỉ có lời khai của Tẩn Chỉn L ngoài ra không có tài liệu nào khác để chứng minh nên không đủ căn cứ để xử lý đối với Tẩn Chỉn L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Xét nhân thân bị cáo, bị cáo chưa có tiền án tiền sự.Tại phiên toà hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Tẩn Chỉn L ngày 27/12/2018 do Tẩn Chỉn L không biết tên, tuổi và địa chỉ, ngoài lời khai của Tẩn Chỉn L ra không có tài liệu nào khác để chứng minh nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý.
Về vật chứng:
Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 4,47 (bốn phẩy bốn mươi bẩy) gam nhựa thuốc phiện, đã trích mẫu giám định 2,02 (hai phẩy không hai) gam để tiến hành giám định, còn lại 2,45 (hai phẩy bốn mươi lăm) gam. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
Về hình phạt bổ sung: Điều luật quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có tài sản, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Bị cáo chịu án phí theo qui định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Tẩn Chỉn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Xử phạt bị cáo Tẩn Chỉn L 1 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 27 tháng 12 năm 2018.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 2,45 (hai phẩy bốn mươi lăm) gam nhựa thuốc phiện được đựng trong một bì thư niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Tẩn Chỉn L có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện, thu giữ ngày 27 tháng 12 năm 2018 tại thôn Sim San 1, xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai”.
3. Án phí: Bị cáo Tẩn Chỉn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKS, TA tỉnh; - VKSND H. Bát Xát; - Bị cáo; - Công an H. Bát Xát (2); - THA DS;- THA HS; - Lưu HS-TA (2). CÁC HỘI THẨM Báo c¸o ¸n: Vô ¸n h×nh sù: TPHoµng Duy ChiÕn. Nam; Sinh ngày: 03/3/1990 tại tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn 3, xã Đồng Tuyển, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Ngô Văn Cường và bà Vũ Thị Duyên; có vợ Lê Thanh Sinh và 01 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.Nhân thân bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy. 05/5/2019. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam tại Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị Duyên; Địa chỉ: Thôn 3, xã Đồng Tuyển, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Người làm chứng: - Anh Nguyễn Văn Mạnh; Địa chỉ: Xóm 10, xã Chính Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; - Chị Hà Thị Hợp; Địa chỉ: Tổ 21, phường Duyên Hải, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. NỘI DUNG VỤ ÁN: biển kiểm soát 24P5 – 7911 đi từ nhà tại thôn 3, xã Đồng Tuyển, huyện Bát Xát đến bến xe trung tâm thuộc tổ 19, phường Bình Minh, huyện Bát Xát mục đích mang quần để gửi xe khách xuống Hà Nội cho vợ là Lê Thanh Sinh. Trên đường đi do bản thân nghiện chất ma túy, Tẩn Chỉn L đã đến khu vực Cầu Sắt thuộc xã Cam Đường, huyện Bát Xát để tìm mua Heroine. Khi đến nơi Tẩn Chỉn L gặp một người đàn ông tên Nghị (không biết rõ tuổi, địa chỉ) đặt vấn đề hỏi mua ma túy Heroine và mua của người này 02 gói ma túy Heroine với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) khi mua được ma túy Tẩn Chỉn L đã lấy chiếc quần bò đùi ở trong túi nilon ra để cất giấu 02 gói ma túy Heroine vào trong túi bên phải, sau đó để lại chiếc quần đó vào trong túi nilon tiếp tục điều khiển xe mô tô đến bến xe trung tâm. Khi đến nơi Tẩn Chỉn L đã cầm chiếc túi nilon đó vào cửa phòng bán vé xe khách Sao Việt. Khi Tẩn Chỉn L đang định lấy 02 gói ma túy Heroine ra khỏi túi quần thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,45 (Không phẩy bốn mươi lăm) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định là chất ma túy Heroine (Hêrôin). Heroine (Hêrôin) thuộc danh mục I, số thứ tự 20, Nghị định số 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. nhân dân huyện Bát Xát truy tố bị cáo Tẩn Chỉn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điêu 249 Bộ luật hình sự năm 2015. QUAN ĐIỂM Tuyên bố bị cáo Tẩn Chỉn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 29 tháng 4 năm 2019. 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tịch thu tiêu hủy 0,33 (không phẩy ba mươi ba) gam Heroine được đựng trong một bì thư niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, trên mặt của bì niêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Tẩn Chỉn L có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 29 tháng 4 năm 2019 tại tổ 19, phường Bình Minh, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai” và 01 túi nilon màu xanh. đùi màu xanh đã bị rách; 01 chiếc quần bò dài. 354563052436556 để đảm bảo thi hành án 24P5 – 7911 có số khung 88B034141, số máy 90034141 xe cũ đã qua sử dụng; phí Hình sự sơ thẩm. quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Duy Chiến THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Duy Chiến Họ và tên: Họ và tên: Tẩn Chỉn L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Bị cáo Tẩn Chỉn L bị bắt, tạm giữ ngày 29/4/2019, tạm giam ngày Khoảng 6 giờ ngày 29/4/2019 Tẩn Chỉn L một mình điều khiển xe mô tô Tại Kết luận giám định số 91/GĐMT ngày 02/5/2019 của Phòng kỹ thuật Bản cáo trạng số 62/KSĐT ngày 10 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát Căn cứ điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 1. Xử phạt bị cáo Tẩn Chỉn L 1 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình 2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm Trả lại cho bị cáo 01 sim có số thuê bao 01657321928; 01 chiếc quần bò Tạm giữ 01 điện thoại NOKIA màu đen đã qua sử dụng có số imel: Trả lại cho bà Vũ Thị Duyên 01 xe mô tô nhãn hiệu S.PHONDA BKS 3. Án phí: Bị cáo Tẩn Chỉn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn) tiền án Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 |