- Tranh chấp gì? án hình sự — "Liễu Hồng Quang - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng khoản 1 điề u 321; điể m i, s khoả n 1 điề u 51; khoản 1, 3 điều 54, điề u 38 - Bộ luậ t hì nh sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/ 2019/ HSST Ngày: 17/01/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
-Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Vinh.
- Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Tấn.
Ông Nguyễn Ngọc Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Việt Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Nguyễn Mậu Sơn –Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Việt Yên; tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2019/HSST ngày 20/12/2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST ngày 04 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo
Liễu Hồng Q, sinh năm 1988; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm Mới- xã H- huyện H- tỉnh L. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:Tày; Tôn giáo: Không Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do Con ông: Nông Văn P và bà: Liễu Thị B Vợ: Hoàng Thị L, sinh năm: 1988 Bị can có hai con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013 Tiền án, nhân thân: Không Tiền sự: Ngày 07 tháng 8 năm 2018, bị Phòng Cảnh sát hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Đánh bạc (phạt 1.500.000 đồng). Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2018 đến ngày 21/11/2018 thay thế ngăn chặn. Hiện tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1.Anh Thân Văn K; sinh năm 1985 ( vắng mặt)
2.Anh Thân Văn Th; sinh năm 1980 ( vắng mặt)
3.Anh Thân Văn V; sinh năm 1990 (vắng mặt)
4.Ông Lê Văn S; sinh năm 1965 (vắng mặt) Đều TQ: thôn M; xã H; huyện V; tỉnh B.
5.Anh Thân Văn N; sinh năm 1985 ( vắng mặt) TQ: thôn M; xã H; huyện V; tỉnh B *Người làm chứng:
1.Anh Phùng Văn H; sinh năm 1988 ( vắng mặt)
2.Anh Lê Văn Ch; sinh năm 1988 ( vắng mặt) Đều TQ: thôn M; xã H; huyện V; tỉnh B
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, vụ án có nội dung được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 15 phút ngày 12/10/2018 tại nhà ông Lê Văn S, sinh 1965 ở thôn thôn M; xã H; huyện V; tỉnh B, Công an huyện Việt Yên bắt quả tang một số đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh "Liêng" sát phạt nhau bằng tiền, bắt giữ được 5 đối tượng gồm: Liễu Hồng Q, Thân Văn Th, sinh 1980, Thân Văn K, sinh 1985, Thân Văn N, sinh 1985, Thân Văn V, sinh 1990 đều trú quán: thôn M; xã H; huyện V; tỉnh B đưa về Cơ quan điều tra Công an huyện V để làm rõ.
Thu giữ vật chứng bao gồm:
- Thu tại chiếu bạc: + Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 2.150.000 VNĐ (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) + 52 quân bài lơ khơ, 01 chiếu cói.
- Thu trong người của các đối tượng: Liễu Hồng Q 01 di động và 500.000 đồng; Thân Văn V 01 di động và 4.500.000 đồng; Thân Văn N 01 di động và 1.700.000 đồng; Thân Văn K 02 di động và 7.500.000 đồng; Thân Văn Th 01 di động và 7.300.000 đồng;
Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận :
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 12/10/2018, Q đi bộ đến quán bán hàng nhà ông S thấy có Th, K, V đang chơi bạc “ Liêng”. Q bỏ 200.000đ để đánh bạc, sau đó có N cũng đến đánh bạc cùng. Cả 5 người đánh bạc đến hơn 12 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện V đến bắt quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan. Q không phải nộp tiền gì cho ai khi vào đánh bạc.
Các đối tượng đánh bạc lấy 1 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân từ A đến K, khi chơi bọn chúng quy định mỗi người bỏ ra 10.000 đồng vào giữa ( hay còn gọi là vào gà) sau đó mỗi người được chia 3 quân bài tú lơ khơ, khi chia song mọi người cầm bài tự xem điểm, nếu thấy bài mình to hoặc điểm cao có thể ăn được làng thì đặt tiền tố, còn ai thấy bài không được thì úp bài xin thua. Mỗi lần tố bài người tố bài phải bỏ ít nhất từ 10.000đ và không quá 50.000đ, mỗi người chỉ được tố không quá 3 lần. Khi tính điểm cộng điểm 3 cây tú lơ khơ không có hình đầu người từ cây Át ( cây át tính là 1) đến 9. Cộng 3 cây tính điểm tròn cao nhất từ 9 trở xuống; các cây bài 10, J, Q, K được tính là 0 điểm còn 3 quân bài của người chơi cầm trong tay có thứ tự liên tiếp nhau được tính là liêng ( ví dụ A,2, 3 cho dến J, Q, K), khi hết quyền tố bài những người không tham gia tố bài thì tính là thua, còn những người tham gia tố bài còn lại thì ngửa bài tính điểm ai có liêng cao nhất thì được ăn tất cả số tiền người chơi đã vào gà và đặt cược, nếu ván bài không ai có liêng thì tính điểm, ai có điểm cao nhất thì được ăn tất cả số tiền vào gà và tiền đặt cược, người thắng bài ván trước thì được quyền chia bài ván sau.
Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
Tại bản cáo trang số 02/CT – VKSND -VY ngày 19 tháng 12 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo về tội “ đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 – Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo Liễu Hồng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng sự khoan hồng của Pháp luật.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 điề u 321; điể m i, s khoản 1 điề u 51; khoản 1, 3 điều 54; điề u 38 - Bộ luậ t hì nh sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Liễu Hồng Q mứ c á n từ 4 tháng đến 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được khấu trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2018 đến ngày 21/11/2018.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí, miễn án phí và hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Xử lý vật chứng:
Áp dụng điể m a, b khoả n 1 Điề u 47 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; các điểm a, b, c, khoản 2, điểm a khoản 3 Điề u 106 - Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự năm 2015:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước : Số tiền các bị cáo dùng vào việc “Đánh bạc” : 2.150.000 đồ ng (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếu cói, 52 quân bài tú lơ khơ.
- Trả lại bị cáo 500.000đ theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/12/2018 giữa Công an huyện Việt Yên với Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Miễn án phí HSST cho bị cáo
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ và ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã có lời khai tại hồ sơ và cơ quan điều tra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của VKSND huyện Việt Yên đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:
Liễu Hồng Q là đối tượng đã có tiền sự về tội “ Đánh bạc” chưa được xóa án tích. Trong khoảng thời gian từ 11 giờ đến 12 giờ 15 phút ngày 12/10/2018 tại nhà ông Lê Văn S- sinh năm 1965 ở thôn thôn M; xã H; huyện V; tỉnh B. Q có 200.000 đồng tham gia đánh “Liêng” cùng với Thân Văn Th- sinh 1980, Thân Văn K- sinh 1985, Thân Văn N- sinh 1985, Thân Văn V- sinh 1990 sau đó bị Công an huyện Việt Yên bắt quả tang thu giữ một số vật chứng có liên quan; Số tiền các con bạc sử dụng vào việc đánh bạc là 2.150.000 VNĐ (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng). Riêng bị cáo Liễu Hồng Q có tiền sự: Ngày 07 tháng 8 năm 2018, bị cáo bị Phòng Cảnh sát hình sự- Công an tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” 1.500.000đ.
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bản cáo trạng số 02/CT – VKSND -VY ngày 19/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên đã truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 – Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ hành vi “Đánh bạc” là một trong những tệ nạn xã hội cần phải bài trừ, vì đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn khác như trộm cắp, lừa đảo…, là nguyên nhân làm ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp tới trật tự xã hội, làm mất trật tự trị an địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và là người dân tộc thiểu số, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Qua phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Ngày 07 tháng 8 năm 2018, bị cáo bị Phòng Cảnh sát hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” nay lại tiết tục vi phạm. Vì vậy, cần bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian. Xong xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, là dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, nhận thức hạn chế. Số lượng tiền đánh bạc ít. Do vậy cần áp dụng khoản 1,3 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của VKS cũng đủ điều kiện giáo dục cải tạo bị cáo thành người tốt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. HĐXX thấy cần miễn án phí và hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Trong vụ án này có các đối tượng: Thân Văn K, Thân Văn Th, Thân Văn V, Thân Văn N tham gia đánh bạc ngày 12/10/2018 cùng với Q nhưng do bàn bạc có trị giá dưới 5.000.000 đồng và các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự về hành vi liên quan đến đánh bạc, gá bạc, tổ chức đánh bạc nên ngày 23/11/2018 Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên là có căn cứ.
Quá trình các đối tượng tham gia đánh bạc tại nhà ông Lê Văn S thì ông S và gia đình không ai biết do vậy Cơ quan điều tra Công an huyện V không xem xét xử lý.
Đối với một số đồ vật, tài sản của các đối tượng liên quan. Quá trình điều tra xác định những đối tượng này không dùng vào việc đánh bạc nên Cơ quan điều tra Công an huyện V đã trả cho chủ sở hữu là có căn cứ.
Về vật chứng vụ án HĐXX thấy: Số tiền 500.000đ Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc cần trả lại bị cáo theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/12/2018 giữa Công an huyện V với Chi cục thi hành án dân sự huyện V
Số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 2.150.000 đồ ng (Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) cần được tịch thu để xung công quỹ nhà nước theo quy định tại các điểm a, b, khoản 1, điều 47 - Bộ luật hình sự năm 2015 và điểm a, b khoản 2 điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếu cói, 52 quân bài tú lơ khơ đây là những vậ t chứ ng bị cáo dùng làm công cụ phương tiệ n phạ m t ội, lại là vật chứng không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ tại điểm a khoản 1 điều 47 – BLHS năm 2015 và điểm c khoản 2 điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tại phiên Tòa hôm nay người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt HĐXX thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào khoản 1 điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử.
Áp dụng các điều 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 điề u 321; điể m i, s khoả n 1 điề u 51; khoản 1, 3 điều 54, điề u 38 - Bộ luậ t hì nh sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Liễu Hồng Q 04 (bốn) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày12/10/2018 đến ngày 21/11/2018.
* Vật chứng: Áp dụng điển a, b khoản 1 điều 47 –Bộ luật hình sự năm 2015 ; Áp dụng điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước : Số tiền: 2.150.000 đồ ng ( Hai triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) bị cáo dùng vào việc “Đánh bạc”.
- Trả lại bị cáo 500.000đ (năm trăm ngàn đồng)
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 chiếu cói, 52 quân bài tú lơ khơ.
(Toàn bộ vật chứng theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/12/2018 giữa Công an huyện Việt Yên với Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên).
*Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
*Quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331; 332 và điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt án xử vắng mặt.
| Nơi nhận: - TATỉnh. - VKSND tỉnh Bắc Giang - VKSND huyện Việt Yên (02 bản) - Công an huyện. - Các bị cáo. - Chi cục THADS. - T.H.A H.S (04 bản) - Sở tư pháp Bắc Giang. - HS; Lưu VP HỘI THẨM NHÂN DÂN Hoàng Văn Tấn – Nguyễn Ngọc Vân | T/ M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hải Vinh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hải Vinh |