vanban.org

Bản án 04/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 15/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Châu Văn U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Châu Văn U 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2018. Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong vụ số 473/PC09-GĐMT ngày 12/09/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Châu Văn U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒ A Á N NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2019/HSST
Ngày: 15 - 01 - 2019.

NHÂN DANH

NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒ A Á N NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thàn phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liệu; Ông Sẩm Dắt Phắn.

- Thư ký B bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Hội - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án; Tòa án nhân dân huyện Đ đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 122/2018/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Châu Văn U – sinh ngày 22/12/1998, tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 07/12; Q tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Châu Văn D (đã chết) và bà Lê Kim B – sinh năm 1964; sống chung như vợ chồng với chị Phạm Thị Ngọc T1 – Sinh năm 1997 và có 01 con chung sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam, từ ngày 23/10/2018 đến nay “có mặt”.

- Người làm chứng: Anh Điểu M – sinh năm 1983

Địa chỉ: ấp D1, xã T2, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và D biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện và có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 13 giờ 30 phU ngày 02/9/2018, Châu Văn U điện thoại cho 01 đối tượng tên thường gọi là Q - Q có số điện thoại là 01882.782040, để hỏi mua 250.000đ ma túy đá; Q đồng ý và hẹn U lên khu vực đường liên ấp D2, xã T2 để giao ma túy. Khoảng 14 giờ 00 cùng ngày, U đến điểm hẹn, đưa Q 250.000 đồng và nhận 02 bịch ma túy đá thì bị

- 1 -

Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an xã T2 bắt quả tang. Tang vật thu giữ của Châu Văn U là 02 bịch nylon bên trong có tinh thể màu trắng nghi là ma túy; riêng đối tượng tên Q chạy thoát.

Sau khi thu giữ tang vật, Công an tiến hành niêm phong có chữ ký ghi họ tên Châu Văn U, người chứng kiến anh Điểu M và dấu mộc đỏ của Công an xã T2 (Ký hiệu M) để trưng cầu giám định.

Căn cứ Bản kết luận giám định số: 473/PC09-GĐMT ngày 12/09/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai xác định: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng 0,1312 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSĐQ ngày 18 tháng 12 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Châu Văn U về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên giữ nguyên truy tố, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Bị cáo Châu Văn U thành khẩn nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Châu Văn U không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Châu Văn U đã khai nhận tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với B bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp lời khai của người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 00 ngày 02/9/2018, tại ấp D2, xã T2, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Châu Văn U đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1312 gam Methamphetamine thì bị Công an bắt quả tang.

Theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ thì Methamphetamine là ma túy; do đó, hành của bị cáo Châu Văn U đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

- 2 -

Xét thấy: ma túy là hiểm họa của mọi người, mọi nhà; là một loại chất cấm lưu hành, do nhà nước độc quyền quản lý. Bị cáo Châu Văn U cũng nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng không quyết tâm từ bỏ mà lại vi phạm pháp luật bằng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng phạt và giáo dục bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Châu Văn U thì thấy rằng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh kinh tế khó khăn; bị cáo đang phải điều trị thương tích do tai nạn lao động nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về biện pháp tư pháp: 01 gói niêm phong vụ số 473/PC09-GĐMT ngày 12/09/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai (ma túy còn lại sau giám định): là chất cấm lưu hành nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tòa án tịch thu tiêu hủy.

Đối tượng “Q” bán ma túy cho bị cáo Châu Văn U đã chạy thoát khi truy bắt: Cơ quan điều tra đã xác M nhưng không rõ nhân thân, lai lịch nên tiếp tục xác M, làm rõ sẽ xử lý sau.

Bị cáo Châu Văn U phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Châu Văn U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Châu Văn U 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2018.

Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong vụ số 473/PC09-GĐMT ngày 12/09/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai.

(Gói niêm phong do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ quản lý theo B bản giao nhận vật chứng ngày 19/12/2018).

Bị cáo Châu Văn U phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Châu Văn U được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- 3 -

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ