- Tranh chấp gì? án hình sự — "dang tien t - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 04/2019/HS-ST Ngày 04-01-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN - TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thu Y
Bà Nguyễn Thị T
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh T là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Mai Chiến T- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 299/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 306/2018/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Tiến T, sinh năm 1995 tại tỉnh B; hộ khẩu thƣờng trú: 381B, khu phố N, phƣờng L, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H (chết) và bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1965; bị cáo chƣa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 19/5/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/12/2017; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/9/2018.
- Bị hại: Bà Văn Tuyết T, sinh năm 1999; địa chỉ thƣờng trú: 79/11 Khu dân cƣ C, phƣờng C, Th phố T, tỉnh B; địa chỉ tạm trú: 36D1, Khu dân cƣ P, phƣờng P, Th phố T, tỉnh B.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Văn Tuyết H, sinh năm 1990; địa chỉ thƣờng trú: Khu 12, phƣờng Chánh Nghĩa, Th phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng.
- Người chứng kiến: Ông Phạm V, sinh năm 1986; địa chỉ thƣờng trú: 7/31, khu phố B2, phƣờng B, thị xã T, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 20 giờ ngày 20/9/2018, đối tƣợng Th (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô hiệu Classico chở Đặng Tiến T đi đến đoạn đƣờng thuộc khu phố B2, phƣờng B, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng thì trời mƣa nên cả hai dừng lại trú mƣa tại phía trƣớc Công ty Tr; địa chỉ: 7/31 khu phố B 2, phƣờng B, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Lúc này, T và Th nhìn thấy bà Văn Tuyết T đang ngồi trên xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61B1-260.18 cùng trú mƣa nên T và Th bàn bạc lừa lấy chiếc xe của bà T để bán lấy tiền tiêu xài. T đến gần bà T và nói với bà T là xe của T bị chết máy nên nhờ bà T đẩy xe hộ. Ban đầu bà T không tin và không nhận lời nên để tạo lòng tin, T đƣa điện thoại di động hiệu Nokia 1280 của T cho bà T cầm. Lúc này bà T đồng ý để cho T điều khiển xe của bà T còn bà T ngồi lên xe của Th điều khiển để T đẩy. Tuy nhiên, khi bà T giao xe cho T, bà T chƣa kịp ngồi lên xe của Th thì T điều khiển xe bỏ chạy, Th cũng điều khiển xe chạy theo sau T. Lúc này bà T trình báo sự việc đến Công an phƣờng B, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Riêng T sau khi chiếm đoạt đƣợc xe thì T điều khiển xe chạy đƣợc khoảng hai kilomet thì T và Th dừng xe lại kiểm tra bên trong xe phát hiện có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng và một số giấy tờ tùy thân của bà T. Th giao cho T giữ rồi cả hai điều khiển xe đi tiếp nhƣng sau đó bị lạc nhau. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi T đang điều khiển xe mô tô biển số 61B1-260.18 lƣu thông trên đƣờng thì bị lực lƣợng Công an tuần tra phát hiện đƣa về trụ sở làm việc. Quá trình điều tra, T khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt của bị hại T xe mô tô biển số 61B1-260.18.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 61B1-260.18; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen; 01 chứng minh nhân dân, 01 thẻ Bảo hiểm Y tế mang tên Văn Tuyết T; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tai nạn xe mô tô biển số 61B1-260.18; 01 áo khoác màu đỏ.
Tại biên bản định giá tài sản và kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Thuận An ngày 26/9/2018 xác định: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng có trị giá 3.500.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61B1-260.18 có trị giá 17.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 20.500.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 03/CT-VKS-TA ngày 07 tháng 12 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Đặng Tiến T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm theo Điểm s, h, Khoản 1, Điều 51 và Điểm h, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) và xử phạt bị cáo Đặng Tiến T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù. Ngoài ra đại diện Viện Kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng nhƣ nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời nói sau cùng của bị cáo trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo đã nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về làm lại cuộc đời.
Bị hại Văn Tuyết T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt trong đó nội dung vẫn giữ nguyên toàn bộ lời khai tại cơ quan điều tra. Bị hại xác định toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt bị hại đã đƣợc nhận lại nên không yêu cầu gì. Đối với áo khoác màu đỏ đang bị thu giữ là của bị hại tuy nhiên bị hại không còn nhu cầu sử dụng nên yêu cầu Tòa án tịch thu tiêu hủy. Riêng về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì bị hại yêu cầu xem xét theo quy định của pháp luật.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Văn Tuyết H xác nhận bà H chỉ đứng tên giùm cho bị hại T đối với xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61B1-260.18, thực tế xe mô tô trên thuộc quyền sở hữu của bị hại T. Bà H không có yêu cầu gì trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng nhƣ những ngƣời tham gia tố tụng khác không có có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Đặng Tiến T đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản nhƣ nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, ngƣời chứng kiến tại cơ quan điều tra và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 20/9/2018, tại địa chỉ 7/31 khu phố Bình Đức 2, phƣờng Bình Hòa, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo Đặng Tiến T đã có hành vi gian dối làm cho bị hại Văn Tuyết T tin tƣởng để bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại T gồm xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61B1-260.18 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng với tổng trị giá 20.500.000 đồng. Nhƣ vậy, hành vi trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đƣợc quy định tại Khoản 1, Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-TA ngày 07 tháng 12 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phƣơng. Bị cáo nhận thức đƣợc hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho bị hại tin tƣởng để bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhƣng vì tƣ lợi cá nhân bị cáo cố tình thực hiện, bất chấp hậu quả. Bản thân bị cáo đã từng bị Tòa án kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chƣa đƣợc xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật. Do đó, đối với bị cáo cần có mức án tƣơng xứng để tiếp tục răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành ngƣời có ích và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên khi quyết định về hình phạt cần xem xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự nhƣ sau:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt hành chính nhƣng bị cáo không thi hành.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại thuộc Điểm s, h, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 19/5/2017, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhƣng chƣa đƣợc xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trƣờng hợp tái phạm theo Điểm h, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị mức hình phạt 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù đối với bị cáo T là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, model 1280 bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
Đối với 01 áo khoác màu đỏ là tài sản của bị hại T, bị hại không yêu cầu nhận lại, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 61B1-260.18 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng qua điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của bị hại Văn Tuyết T nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Thuận An đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là phù hợp Điểm b, Khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với đối tƣợng tên Th cùng bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại T do không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên chƣa xử lý, khi nào xác định đƣợc sẽ xử lý sau.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1, Điều 174; Khoản 1, Điều 47; Điểm s, h, Khoản 1, Điều 51; Điểm h, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Điều 106, 136, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Đặng Tiến T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Đặng Tiến T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 9 năm 2018.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, model 1280, IMEI 351671/05/006580/7
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác màu đỏ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05 tháng 12 năm 2018 giữa Công an thị xã Thuận An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An).
3. Về án phí: Bị cáo Đặng Tiến T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Bị cáo; bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lƣu: HS, THAHS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tố Uyên |