vanban.org

Bản án 04/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 30/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/9/2018. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2019/HS-ST
Ngày 16 – 01 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Trần Tuấn Vũ

2. Nguyễn Duy Khánh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Huy Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2018/TLST- HS ngày 20 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 tại xã V, huyện K, tỉnh T.

Nơi cư trú: Thôn 6, xã V, huyện K, tỉnh T; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị H sinh năm 1958; có vợ là Tạ Thị G (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2001.

Tiền án: Bản án số 99/2014/HSST ngày 13/8/2014 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Nguyễn Văn T 54 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2018.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 61/2010/HSST ngày 06/9/2010.

Bị tạm giữ từ ngày 12/9/2018 đến ngày 15/9/2018 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kiến Xương; (có mặt)

- Người chứng kiến:

+ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1966 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh T.

+ Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1956 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh T.

+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mắc nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ 40 phút ngày 12/9/2018, T đi xe ôm của một người không quen biết đến khu vực đường trước cửa Công ty Plaza – thành phố B thì xuống xe đi bộ. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 180.000 đồng. T cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi xe ôm về đến khu đường ngã ba gần trạm thủy văn thuộc địa phận thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh T thì xuống xe, đi bộ tìm chỗ sử dụng. Khi đi đến khu vực trước cổng nhà ông V, sinh năm 1947 thì T bị Công an huyện Kiến Xương nghi ngờ có biểu hiện liên quan đến tội phạm ma túy nên tiến hành kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Hữu T, anh Nguyễn Văn T, tổ công tác Công an huyện Kiến Xương đã thu giữ tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng túi ni lông màu trắng, bên trong bọc giấy tráng kim màu trắng, trong cùng có chất bột dạng cục màu trắng, T khai nhận đó là ma túy của T vừa mua về mục đích sử dụng cho bản thân, thu giữ tại túi quần bên phải phía trước T đang mặc 02 bơm kim tiêm và 02 ống thủy tinh Novocain chưa qua sử dụng. Công an huyện Kiến Xương lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản quản lý và niêm phong số vật chứng trên.

Tại bản Kết luận giám định số 344/KLGĐ-PC09 ngày 12/9/2018 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), khối lượng 0,2388 gam” (Không phẩy hai nghìn ba trăm tám mươi tám gam).

Vật chứng của vụ án:

Thu giữ của Nguyễn Văn T 0,2388 gam Hêrôin, 02 bơm kim tiêm và 02 ống thủy tinh Novocain chưa qua sử dụng.

Bản cáo trạng số 01/CT-VKS-KX ngày 20/12/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi như mô tả ở trên. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương giữ nguyên quan điểm đã truy tố trong bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 0,2199 gam Hêrôin còn lại sau giám định và bao gói; tịch thu tiêu hủy 02 bơm kim tiêm và 02 ống nước Novocain.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo, sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng.

Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các chứng cứ sau đây:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Kiến Xương lập hồi 13 giờ 50 phút ngày 12/9/2018 (Bút lục số 01-02)

- Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xương lập ngày 12/9/2018 (Bút lục số 03).

- Kết luận giám định số 344/KLGĐ – PC09 ngày 12/9/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình (Bút lục số 07).

- Lời khai của những người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Hữu T, anh Nguyễn Văn T (Bút lục số 47-58)

Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 13 giờ 45 phút ngày 12/9/2018, tại khu vực cổng nhà ông V, sinh năm 1947, trú tại thôn Đ, xã V, huyện K, tỉnh T, bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2388 gam ma túy loại Hêrôin với mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi trên của Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, đi ngược lại với cuộc đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy của nhà nước. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có một tiền án, nhân thân xấu, đã vi phạm pháp luật bị xử lý nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện và cải tạo bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo phạm tội lần này khi Bản án số 99/2014/HSST ngày 13/8/2014 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 54 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “tái phạm”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Bị cáo Nguyễn Văn T khai mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực ngã ba trước cửa Công ty Plaza, thành phố T. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người bán ma túy cho Nguyễn Văn T nên không có căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

0,2199 gam Hêrôin còn lại sau giám định và bao gói thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

02 bơm kim tiêm và 02 ống thủy tinh Novocain là dụng cụ để sử dụng ma túy cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 12/9/2018.

2.Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin thu giữ của Nguyễn Văn T được Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn lại sau giám định là 0,2199 gam và bao gói được niêm phong trong phong bì bên ngoài ghi số 344/KLGD.

Tịch thu tiêu hủy 02 bơm kim tiêm còn nguyên bao gói và 02 ống thủy tinh Novocain chưa qua sử dụng.

(Các vật chứng trên có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương ngày 07/01/2019).

3. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/01/2019.

Cỡ chữ