vanban.org

Bản án 04/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 23/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Lý Văn T 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2018. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Lý Văn T 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2019/HS-ST
Ngày: 23-4-2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông: Vũ Xuân Quảng.

- Ông: Nguyễn Xuân Huyên.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ưu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trọng Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2018/TLST-HS, ngày 08 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Lý Văn T, sinh ngày: 07/02/1982 tại thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên. Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Tổ X, phường Q, thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Viết Th (đã chết) và bà Đỗ Thị S; Vợ, con; chưa có; tiền án: 03 (Năm 2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Bản án số 278/2008/HSST ngày 30/12/2008), Năm 2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Th, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 448/2012/HSST ngày 22/11/2012), Năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Bản án số 36/2017/HSST ngày 24/8/2017)); tiền sự: Không; Nhân thân: Xấu; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2018 đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Nông Thị D, sinh năm 1977. Nơi cư trú: T5, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Nông Thế D, sinh năm 1979. Có mặt.

* Những người chứng kiến:

- Nông Bàn D, sinh năm 1986. Vắng mặt.

- Đỗ Văn H, sinh năm 1984. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/10/2018, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân ở khu vực T2, thị trấn C, huyện B có một người đàn ông có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ công tác thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã đến T2, thị trấn C, huyện B để xác minh nguồn tin. Kiểm tra đối tượng Lý Văn T đã phát hiện và thu giữ được tại túi quần bên phải Lý Văn T đang mặc có 01 gói nhỏ được gói bằng giấy có in chữ bên trong có chứa chất bột màu trắng (đã niêm phong vào phong bì ký hiệu A1); thu được tại túi quần bên trái Lý Văn T đang mặc 01 gói nhỏ được gói bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng bên trong chứa chất bột màu trắng (đã niêm phong vào phong bì ký hiệu A2). Lý Văn T khai 02 gói nhỏ đều là chất ma túy (Heroine). Ngoài số ma túy đã bị thu giữ T còn bị thu giữ 01 điện thoại di động cũ nhãn hiệu Nokia, số tiền 1.340.000 đồng, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 97F1-6498 do T điều khiển. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lý Văn T và đưa về trụ sở Công an huyện B để điều tra làm rõ.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành mở niêm phong để cân xác định khối lượng gói chất bột màu trắng thu giữ của Lý Văn T được 0,150 gam rồi tiếp tục niêm phong toàn bộ 0,150 gam chất bột màu trắng vào phong bì kín ký hiệu B1 và bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn để trưng cầu giám định.

Tại Kết luận giám định số: 111/KTHS-MT ngày 04/11/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 thu giữ của Lý Văn T mà cơ quan điều tra Công an huyện B gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,150 gam. Sau giám định, mẫu chất bột còn lại là 0,130 gam cùng phong bì, bao gói cũ được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T111 và hoàn trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B quản lý theo quy định.

Bị cáo Lý Văn T khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy (Heroine) nên khoảng 09 giờ ngày 26/10/2018, T điều khiển xe mô tô từ nhà anh Nông Văn D ở T7, thị trấn C, huyện B lên cổng Trung tâm y tế dự phòng huyện B thuộc T2, thị trấn C, huyện B với mục đích là tìm mua ma túy về sử dụng. Khi lên đến nơi T đi vào quán nước ở cổng trung tâm y tế dự phòng, trong lúc ngồi quan nước thì có một người đàn ông đi vào quán, thấy người này có biểu hiện của người nghiện ma túy nên T hỏi người đó mua ma túy và người đó đồng ý bán cho T 02 gói nhỏ chất ma túy với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T lên nhà bà Bàn Thị L (Trú tại T2, thị trấn C, huyện B) chơi, được khoảng 15 phút sau thì T đi về, khi ra đến sân nhà bà L thì bị tổ công tác Công an huyện B phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy (Heroine) có khối lượng 0,150 gam để ở hai túi quần T đang mặc trên người.

Bản Cáo trạng số: 04/CT-VKSBB ngày 08/3/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Lý Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lý Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Lý Văn T theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lý Văn T từ 05 đến 06 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho hưởng hình phạt nhẹ nhất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, cũng như việc tống đạt giấy triệu tập đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, tại cơ quan điều tra họ đã có lời khai đầy đủ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lý Văn T đều thừa nhận: Khoảng 09 giờ ngày 26/10/2018 bị cáo Lý Văn T mua 02 gói nhỏ chất ma túy trọng lượng là 0,150 gam với giá 100.000 đồng của một người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ ở cổng Trung tâm y tế dự phòng huyện B thuộc T2, thị trấn C, huyện B. Sau khi mua được ma túy T lên nhà bà Bàn Thị L (Trú tại T2, thị trấn C, huyện B) chơi, được khoảng 15 phút sau thì T đi về, khi ra đến sân nhà bà L thì bị tổ công tác Công an huyện B phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 02 gói ma túy (Heroine) có khối lượng 0,150 gam. Mục đích T mua ma túy về chỉ để sử dụng cho bản thân.

Năm 2017 bị cáo Lý Văn T bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” (Bản án số 36/2017/HSST ngày 24/8/2017) với tình tiết tăng nặng là tái phạm nên phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...

o) Tái phạm nguy hiểm.”

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến cùng tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lý Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo" là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã nhiều lần bị kết án nhưng sau khi chấp hành hình phạt tù trở về địa phương bản thân bị cáo không chịu khó làm ăn, trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục phạm tội.

Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mặt khác góp phần tiếp tay làm gia tăng tệ nạn sử dụng ma tuý và tội phạm khác ở địa phương, gây mất an ninh trật tự, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không thuộc đối tượng hộ nghèo, cận nghèo... nên cần thiết phải có hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về bồi thường thiệt hại: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm:

- 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được và phong bì niêm phong cũ ký hiệu B2.

- 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T111, bên trong phong bì có chứa mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là: 0,130 g (Không phẩy một trăm ba không gam); cùng phong bì bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi vụ mẫu hoàn trả vụ Lý Văn T (1982) Tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu “T111”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.

Số tài sản của bị cáo bao gồm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng và số tiền 1.340.000đ (Một triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên được trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/3/2019 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B, tỉnh Bắc Kạn).

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 97F1-6498 mà bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Ngày 26/10/2018, bị cáo đã mượn của chị Nông Thị D, việc bị cáo sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy chị D không biết. Xét đây là tài sản của chị Nông Thị D, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Cơ quan Điều tra công an huyện B đã trả lại cho chị Nông Thị D là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T có khai mua ma túy (Heroine) của người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm o khoản 2, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Xử phạt bị cáo Lý Văn T 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2018.

Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Lý Văn T 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm:

- 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa toàn bộ giấy gói chất ma túy thu được và phong bì niêm phong cũ ký hiệu B2.

- 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T111, bên trong phong bì có chứa mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là: 0,130 g (Không phẩy một trăm ba không gam); cùng phong bì bao gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi vụ mẫu hoàn trả vụ Lý Văn T (1982) Tàng trữ trái phép chất ma túy, ký hiệu “T111”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.

Tạm giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng và số tiền 1.340.000đ (Một triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/3/2019 giữa Công an huyện B, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện B, tỉnh Bắc Kạn).

- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án Ban hành kèm theo.

Bị cáo Lý Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Việc thi hành án đối với các khoản tiền mà bị cáo phải thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ