vanban.org

Bản án 04/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04 /2019/HNGĐ-ST
Ngày: 22- 7 -2019
V/việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Đinh Văn Tư

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Lâm và ông Trần Đăng Thanh

- Thư ký phiên tòa:Bà Lê Thị Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 22- 7 -2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 17/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2019 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 04/2019/QĐXX-ST ngày 17 tháng 6 năm 2019 và Thông báo mở lại phiên tòa số 02/2019/TB - TA ngày 08-7-2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991; Địa chỉ, nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường K, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)

Bị đơn: Anh Hoàng Nhật L, sinh năm 1988; Địa chỉ, nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường K, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng;

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Hoàng Nhật L kết hôn vào ngày 16 - 6 - 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Kỳ Trinh, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh ( Nay là Ủy ban nhân dân phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, lý do là do tính tình, cách sống vợ chồng không hợp nhau, hay xẩy ra xích mích, cải vã nhau, anh L thường xuyên gây sự, chửi bới vợ con một cách vô cớ. Từ tháng 03 năm 2018 lại nay thì sống ly thân, đã nhiều lần được gia đình hai bên, tổ chức đoàn thể hòa giải nhưng không thành.Chị T thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, sống với nhau mà không có hạnh phúc nên chị làm đơn xin được ly hôn với anh Hoàng Nhật L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hoàng Nhã P, sinh ngày 17- 4 - 2015, hiện nay chị T đang chăm sóc nuôi dưỡng, chị T có nguyên vọng được nuôi con chung và yêu cầu anh L phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng.

Về tài sản và các khoản nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bi đơn anh Hoàng Nhật L vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình tiến hành tố tụng, viết bản tự khai và hòa giải tại Tòa án, trình bày như sau:

Anh thống nhất với lời khai của chị T về thời gian, điều kiện kết hôn, anh L cho rằng vợ chồng sống chung được với nhau được một thời gian thì phát sinh một số mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị T không nghe lời chồng từ đó vợ chồng mới xãy ra mâu thuẫn. Anh L chưa đồng ý ly hôn vì cho rằng đang còn tình cảm với chị T nên có nguyện vọng vợ chồng trở về đoàn tụ, tiếp tục xây dựng hạnh phúc gia đình để nuôi dạy con cái khôn lớn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị T trình bày, anh L mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Nếu phải ly hôn hôn thì anh yêu cầu được nuôi dưỡng con, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản và các khoản nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 của Bộ luật tố tụng dân sự . Bị đơn đã không chấp hành quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự . Bị đơn đã vắng mặt một lần tại phiên hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa hai lần, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh L không còn, vợ chồng không còn thương yêu lẫn nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Hoàng Nhật L; Về con chung: Đề nghị giao con chung cháu Hoàng Nhã P, sinh ngày 17- 4 – 2015 cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng vì chị T có điều kiện chăm sóc con, có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, Anh Hoàng Nhật L không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con vì trước khi mở phiên tòa chị T đã có đơn xin rút phần yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản và nợ chung, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Hoàng Nhật L, hiện nay anh Hoàng Nhật L có hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố H, phường K, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh theo điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Hoàng Nhật L đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và thông báo mở lại phiên tòa do anh L trực tiếp nhận. Qua xác minh, anh Hoàng Nhật L vẫn đang sinh sống và đăng ký địa chỉ cư trú tại Tổ dân phố H, phường K, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Thông báo mở lại phiên tòa theo luật định. Bị đơn anh Hoàng Nhật L vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, điểm b Khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo luật định.

. Về hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị T và anh Hoàng Nhật L kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, chị T và anh Linh đều thừa nhận cuộc sống vợ chồng có phát sinh nhiều mâu thuẫn và thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Chị T cho rằng anh L thường xuyên gây gỗ, chửi bới chị, còn anh L tuy nói rằng mong muốn vợ chồng trở về đoàn tụ để xây dựng hạnh phúc nhưng lại không có việc làm cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng và thể hiện trách nhiệm của mình đối với gia đình. Qua đó, Hội đồng xét xử thấy rằng, vợ chồng đã sống ly thần từ lâu, không quan tâm, yêu thương chăm sóc gì đến nhau, mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Hoàng Nhật L.

. Về nuôi con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Hoàng Nhã P, sinh ngày 17- 4 - 2015, hiện nay chị T đang chăm sóc nuôi dưỡng. Chị T có nguyên vọng được nuôi con, chị có điều kiện tốt để chăm sóc con và có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do đó, xét thấy cần giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung của hai vợ chồng là phù hợp với quy đinh tại Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình và chấp nhận việc rút yêu cầu cấp dưỡng trước khi mở phiên tòa của chị Nguyễn Thị T. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T về không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên miễn xét.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn nên phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình,

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Hoàng Nhật L.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung cháu cháu Hoàng Nhã P, sinh ngày 17- 4 - 2015cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dương đến khi cháu P thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hướng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0007014 ngày 04 - 4 - 2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Hoàng Nhật L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ