- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, con chung Truong - Loan"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HNGĐ-ST Ngày 12 tháng 6 năm 2019. V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trƣơng Nam Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chín và ông Trần Trọng Toàn.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Thạch – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 16/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Tr - Sinh năm: 1969.
Địa chỉ: Đội 4, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Có mặt.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy L - Sinh năm: 1983.
Địa chỉ: Tổ 5, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 19/11/2018, tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Tr yêu cầu khởi kiện như sau:
Ông và bà Nguyễn Thị Thúy L sống chung với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai vào ngày 18 tháng 5 năm 2005. Việc kết hôn của ông bà là hoàn toàn tự nguyện, trước khi kết hôn ông bà đã có thời gian tìm hiểu, yêu thương nhau, được sự đồng ý của gia đình hai bên có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương.
Sau khi kết hôn ông Tr và bà L chung sống với nhau nhưng chỉ có được hạnh phúc trong thời gian đầu, rồi sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, khác nhau về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau, sống với nhau nhưng không có sự tin tưởng, yêu thương, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau. Ngoài ra do ông và bà L sống xa nhau, ông Tr hiện công tác và sinh sống tại tỉnh Ninh Bình còn bà L thì công tác và sinh sống tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai nên từ năm 2011 đến nay ông và bà L không sống chung với nhau.
Nay ông Tr xác định mình không còn tình cảm gì với bà L nữa, cuộc sống chung của vợ chồng cũng không còn có hạnh phúc nên ông Tr yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy L.
Về con chung: Ông Nguyễn Văn Tr và bà Nguyễn Thị Thúy L có hai con chung là Nguyễn Hoàng L – sinh ngày: 15 – 10 – 2005 và Nguyễn Hoàng Thái B – sinh ngày 01/11/2010. Từ năm 2011 đến nay cháu L sống cùng với ông Tr còn cháu B thì sống cùng với bà L. Vì vậy ông Tr yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được nuôi con Nguyễn Hoàng L còn bà L nuôi con Nguyễn Hoàng Thái B. Ông và bà L không phải đóng góp nuôi con.
Về tài sản chung: Ông Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông Tr xác định không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn Tr đã cung cấp các tài liệu chứng cứ gồm bản gốc giấy chứng nhận kết hôn mang tên Nguyễn Văn Tr – Nguyễn Thị Thúy L do Ủy ban nhân dân xã H, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp số 15, quyển số I/05 ngày 18 tháng 5 năm 2005; Bản sao giấy khai sinh mang tên Nguyễn Hoàng L – sinh ngày 15 tháng 10 năm 2005 và bản photocopy có chứng thực giấy khai sinh mang tên Nguyễn Hoàng Thái B – sinh ngày 01 tháng 11 năm 2010.
* Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy L: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ, thông báo về phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng bà L không đến Tòa án để tham gia tố tụng, không đến tham gia phiên tòa nên không có lời khai tại hồ sơ vụ án và không có lời khai tại phiên toà.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến nay, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có mặt nên không có lời trình bày trong hồ sơ vụ án, không đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về quan hệ hôn nhân giữa ông Tr và bà L có đăng ký kết hôn theo quy định là hôn nhân hợp pháp, trong quá trình chung sống ông Tr và bà L đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống cũng không có hạnh phúc và từ năm 2011 đến nay ông Tr và bà L cũng không còn chung sống với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn của hai vợ chồng ông Tr bà L đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Tr. Về con chung: Ông Tr và bà L có hai con chung là Nguyễn Hoàng L và Nguyễn Hoàng Thái B. Từ năm 2011 đến nay cháu L sống cùng với ông Tr còn cháu B sống cùng với bà L, ông Tr có nguyện vọng được nuôi con Nguyễn Hoàng L còn bà L nuôi con Nguyễn Hoàng Thái B, hơn nữa cháu L cũng đã có đơn trình bày ý kiến có nguyện vọng được ở với ông Tr còn cháu Bảo có đơn trình bày ý kiến có nguyện vọng ở với bà L. Vì vậy đề nghị giao con chung Nguyễn Hoàng L cho ông Nguyễn Văn Tr nuôi dưỡng và giao con Nguyễn Hoàng Thái B cho bà Nguyễn Thị Thúy L nuôi dưỡng là phù hợp. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm ông Tr phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 04/3/2019; tham gia phiên hòa giải vào các ngày 04/3/2019 và ngày 10/4/2019; tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm vào các ngày 27/5/2019 và ngày 12/6/2019 nhưng bà Nguyễn Thị Thúy L đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Tr và bà Võ Thị Thúy L kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hra, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai vào ngày 18 tháng 5 năm 2005 nên quan hệ hôn nhân giữa ông Tr và bà L là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì đến năm 2011 vợ chồng ông Tr, bà L bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, khác nhau về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau, sống với nhau nhưng không có sự tin tưởng, yêu thương, tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau. Ngoài ra một phần do ông Tr và bà L không chung sống với nhau, ông Tr hiện công tác và sinh sống tại tỉnh Ninh Bình từ năm 2011 đến nay còn bà L thì công tác và sinh sống tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, mặc dù được gia đình hai bên tổ chức hòa giải nhưng tình trạng hôn nhân của ông bà vẫn không được cải thiện. Mâu thuẫn giữa ông Tr bà L đã được tổ trưởng tổ 5 (trước đây là tổ 6), thị trấn K xác nhận ngày 17/01/2019. Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa ông Tr và bà L như vậy là đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Tr.
Về con chung: Ông Tr và bà L có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Long – sinh ngày 15 tháng 10 năm 2005 và Nguyễn Hoàng Thái Bảo – sinh ngày 01 tháng 11 năm 2010, ông Tr đề nghị Hội đồng xét xử giao con Nguyễn Hoàng Long cho ông Tr được trực tiếp nuôi con, giao con Nguyễn Hoàng Thái Bảo cho bà L trực tiếp nuôi con và ông Tr không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con, cháu Long cũng có văn bản trình bày nguyện vọng xin được ở với ông Tr và cháu Bảo cũng có văn bản trình bày nguyện vọng xin được ở với bà L, điều đó cũng phù hợp với nguyện vọng của ông Tr nên giao cháu Nguyễn Hoàng L cho ông Nguyễn Văn Tr và giao cháu Nguyễn Hoàng Thái B cho bà Nguyễn Thị Thúy L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Do ông Tr không yêu cầu bà L đóng góp nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Ông Nguyễn Văn Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
Về nợ chung: Ông Nguyễn Văn Tr xác định không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn Tr là nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Tr.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn Tr được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy L (Giấy chứng nhận kết hôn được UBND xã H, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai cấp số 15, quyển số I/05 ngày 18 tháng 5 năm 2005).
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng L – sinh ngày 15 tháng 10 năm 2005 cho ông Nguyễn Văn Tr trực tiếp nuôi dưỡng khi con chưa thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Giao con chung Nguyễn Hoàng Thái B – sinh ngày 01 tháng 11 năm 2010 cho bà Nguyễn Thị Thúy L trực tiếp nuôi dưỡng khi con chưa thành niên, đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn Tr không yêu cầu bà Nguyễn Thị Thúy L phải đóng góp nuôi con chung.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn Tr phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000827 ngày 14/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Ông Nguyễn Văn Tr đã nộp đủ án phí.
Thời hạn kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/6/2019), nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Mang Yang; - UBND xã Hra, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai; - Chi cục THADS huyện Mang Yang (khi án có hiệu lực); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trƣơng Nam Trung |