- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hồng M - Trần Thị L"
- Tòa quyết gì? Không chấp nh n kháng cáo của ông Nguyễn Hồng M và bà Tr n Thị L, giữ nguyên ản án n i dung ản án s thẩm về tài sản chung nh sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/HNGĐ-PT Ngày 02-7-2019 V/v:Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Ma Ng c Trung
Các Thẩm phán:
Ông Hà Văn Ch ng;
Bà L u Hồ Loan.
Thư ký phiên tòa: Bà Quan Thị Thu Trang - Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hữu Tình - Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 02/2019/TLPT-HNGĐ, ngày 04 tháng 01 năm 2019, về việc: "Xin ly hôn"
Do Bản án hôn nhân gia đình s thẩm số: 274/2018/HNGĐ-ST, ngày 05/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T bị kháng cáo.
Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2019/QĐ-PT, ngày 21 tháng 5 năm 2019, giữa các đ ng sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng M, sinh năm 1939;
N i đăng ký HKTT: SN 42, tổ 06, ph ng M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang
N i ở hiện nay: SN 146, tổ 03, ph ng Q, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang Có m t
- Ng i đại diện theo ủy quyền của nguyên đ n ông Nguyễn Hồng M: Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1969
N i đăng ký HKTT: Tổ 35, ph ng P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang
N i ở hiện nay: Số nhà 146, tổ 3, ph ng Q, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có m t
- Ng i ảo vệ quyền và i ích h p pháp của nguyên đ n ông Nguyễn Hồng M: Bà Hà Minh P - Lu t s Văn phòng Lu t s M thu c Đoàn Lu t s tỉnh Tuyên Quang. Có m t
Địa chỉ: Số nhà 322, đ ng T, tổ 18, ph ng P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang
2. Bị đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1955;
Địa chỉ: SN 42, tổ 06, ph ng M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có m t
3. Ng i kháng cáo: Nguyên đ n ông Nguyễn Hồng M và ị đ n à Tr n Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Hồng M trình bày:
Ông và à Tr n Thị L xây dựng gia đình với nhau trên c sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08/10/1998 tại UBND ph ng M, thị xã T (nay là thành phố T) Sau khi kết hôn, thì chuyển về sinh sống ở nhà bà L tại tổ 06, ph ng M, thành phố T. Và chung sống hạnh phúc đ c g n 20 năm, đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thu n. Nguyên nhân do cuối năm 2017 ông ị tai nạn giao thông rất n ng và đ c cấp cứu tại ệnh viện Tuyên Quang sau đó về Hà N i điều trị, khi ông ất tỉnh bà L muốn đ a ông về nhà để chết, các con riêng của ông không nhất trí nên muốn đ a ông về Hà N i điều trị, giữa bà L và các con ông ất đồng trong việc cứu chữa cho ông, mâu thu n úc này ắt đ u căng thẳng Trong th i gian điều trị, do thiếu tiền chữa ệnh nên các con riêng của ông có nói với bà L rút hết tiền tiết kiệm gửi tại Ngân hàng để chữa ệnh, nh ng à không đ a sổ tiết kiệm để ông rút tiền, ông đã áo Ngân hàng ị mất và đ c cấp ại sổ để rút tiền chữa ệnh, bà L còn cắt ỏ ảnh của của hai v chồng và vứt ỏ hết qu n áo của ông đi, khi ông tỉnh ại ăn đ c ít cháo các con ông đ a ông về nhà thì bà L đuổi đi, ông g i điện bà Lkhông nghe, khoá cửa không cho ông vào nhà Đến nay ông xác định tình cảm thực sự không còn, không thể chung sống với nhau đ c nữa, thực tế ông và bà L đã sống y thân từ cuối tháng 11/2017 đến nay, đề nghị Tòa án giải quyết y hôn với à L.
V con chung: V chồng ông không cã con chung, không đề nghị giải quyết
V tài sản chung: Khi ông về nhà bà L sinh sống tại tổ 06, ph ng M, thì bà L đã có 01 gian nhà gỗ, vách tóc xi, p ngói diện tích khoảng 17,4 m2, phía sau có 01 ếp xây ằng gạch xỉ vôi diện tích khoảng 6m2, phía sau à ao nằm trên mảnh đất có diện tích 70,2m2, do bà L đã mua ại của bà M tr ớc đó, đất đã đ c cấp giấy CNQSD đất mang tên à Tr n Thị L. Đến năm 1999, do nhà úc này đã xuống cấp, ông và bà L đ p nhà cũ đi để xây toàn nhà mới, xây 02 t ng kiên cố, diện tích khoảng 40m2, trị giá khoảng 150 000 000 đồng Nguồn tiền để xây nhà này à của riêng ông có đ c từ việc án ngôi nhà cũ với v cả và các khoản tiền tích góp đ c của ông để mua nguyên v t iệu, bà L chỉ có công xây dựng chứ không có tiền đóng góp Th xây do bà L nh và thuê tôi không nhớ cụ thể à ai vì th i gian đã âu, nh ng toàn chi phí công th nh vả anh em giúp do ông ỏ ra Đến năm 2006, ông đi àm ại giấy CNQSD đất mang tên hai v chồng, à vì khi xây nhà Nhà n ớc yêu c u giấy phép phải mang tên hai v chồng và phải àm ại để v chồng cùng xây nhà Cụ thể nhà, đất diện tích 70,2m2, nhà xây 02 t ng tại SN 42, tổ 06, ph ng M, đất đã đ c UBND thị xã T cấp GCNQSD đất số AĐ835494, số vào sổ H 01253, ngày 14/7/2006, tại thửa đất số 02203 24 72, t ản đồ số 24, thu c tổ 06, ph ng M, thành phố Tuyên Quang, mang tên h à Tr n Thị L và ông Nguyễn Hồng M ng đề nghị chia đôi số tài sản này, nếu Toà án chia cho ai có quyền sử dụng nhà đất thì có nghĩa vụ trả chênh ệch trị giá tài sản cho ên kia
Các tài sản gồm: Máy điều hoà nhãn hiệu TOSIBA; ti vi nhãn hiệu SAM SUNG 40 in; máy c n ớc nhãn hiệu ROUSA; máy gi t PANASONIC và 01 tủ ạnh Toàn tài sản này ông xác định à tài sản chung đề nghị chia đôi ng có nguyện v ng sủ dụng máy điều hoà nhãn hiệu TOSIBA và ti vi nhãn hiệu SAM SUNG
Về số tiền gửi tiết kiệm à 150 000 000 đồng, ông xác định à tài sản riêng của ông không phải à tài sản chung, ông đã rút tiền chi tiêu hết, không nhất trí chia số tiền này
Ngoài ra v chồng ông còn có 09 chỉ vàng, xe máy (do bà L quản ý) và 01 số tài sản khác nh àn ghế, gi ng, đệm, quạt, nồi, g ng ông không yêu c u Toà án giải quyết
Về vay n : V chồng ông không vay n chung, không yêu c u Tòa án giải quyết
Về tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản: Hết 1 800 000 đồng, ông đề nghị mỗi ng i phải chịu ½, ông đã n p tạm ứng nên bà L phải trả cho ông số tiền à 900 000 đồng
Bị đơn bà Trần Thị L trình bày: Về th i gian, địa điểm đăng ký kết hôn và quá trình chung sống của v chồng nh ông M trình y à đúng Năm 1998 à và ông M kết hôn, sau khi kết hôn ông M về nhà à sinh sống, v chồng chung sống hạnh phúc đ c 20 năm thì phát sinh mâu thu n, nguyên nhân à do cuối năm 2017 ông M ị tai nạn và phải cấp cứu dài ngày tại ệnh viện Tuyên Quang và Hà N i Khi ông M ất tỉnh giữa à và các con riêng của ông M mâu thu n với nhau, các con ông đánh và chửi à th m tệ, à phải áo Công an ph ng giải quyết, các con ông M coi à nh ng i d ng, tự quyết m i vấn đề không àn ạc gì với à, ông M và các con riêng đã àn ạc rút hết tiền tiết kiệm của v chồng à do ông đứng tên gửi tại Ngân hàng à 150 000 000đ, trong khi đó sổ tiết kiệm à v n giữ Nay ông M xin y hôn, à hoàn toàn nhất trí vì à xác định tình cảm v chồng không còn, không thể chung sống đ c với nhau thực tế à và ông M sống y thân từ cối tháng 11/2017 đến nay.
Về con chung: V chồng à không có con chung, không yêu c u Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Đối với diện tích đất hiện đang tranh chấp à do à mua của bà Vũ Thị M vào năm 1990 và đ c UBND thị xã T cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất vào năm 1991 mang tên m t mình à à Tr n Thị L, đến khoảng năm 1994, 1995 à xây nhà cấp ốn diện tích khoảng 40m2 ch a có ếp, trị giá xây nhà úc đó à không nhớ cụ thể à ao nhiêu do mua nguyên v t iệu gom d n khi đủ mới xây Đến cuối 1998 à và ông M kết hôn, từ đó hai v chồng cùng sinh sống tại ngôi nhà này Năm 1999, v chồng cùng sửa ếp, chát chít ại hết khoảng 4 000 000 đồng, đến năm 2009 xây thêm t ng 2 (xây t ng 10) về phía tr ớc diện tích khoảng 27m2, m t ph n mái đổ mái ằng, m t ph n mái p p u xi măng, tổng trị giá xây thêm khoảng 17 000 000 đồng Đến năm 2014 p tôn thêm để che c u n ớc khoảng 4 000 000 đồng, năm 2016, sửa chữa mái p u, àm an can ại và p mái tôn trị giá khoảng 12 700 000đ
Năm 2006, ông M đi àm ại GCNQSD đất mang tên cả hai v chồng Việc cấp GCNQSD đất, năm 2005 à và ông M àn ạc sửa chữa nhà thì phải àm ại GCNQSD đất, úc này ph ng đến àm thủ tục ại nhà văn hoá, à có đến trực tiếp kê khai, đăng ký và ký vào các văn ản để àm thủ tục cấp giấy, còn ông M đi àm, đến năm 2006 đ c cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất mang tên h à Tr n Thị L và ông Nguyễn Hồng M, đến năm 2008 à mới đ c ấy GCNQSD đất về, à xác định diện tích đất 70,2m2, đã đ c UBND thị xã T cấp GCNQSD đất số AĐ835494, ngày 14/7/2006, tại thửa đất số 02203 24 72, t ản đồ số 24, thu c tổ 06, ph ng M, thành phố T, mang tên h à Tr n Thị L và ông Nguyễn Hồng M là của riêng à, à không đồng ý chia đất cho ông M, tài sản trên đất à đề nghị giải quyết theo pháp u t
Các tài sản gồm: Máy điều hoà nhãn hiệu TOSIBA, ti vi nhãn hiệu SAM SUNG 40 in, máy c n ớc nhãn hiệu ROUSA, máy gi t PANASONIC và 01 tủ ạnh Toàn tài sản này à xác định à tài sản chung, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp u t
Về số tiền gửi tiết kiệm, sổ tiết kiệm mang tên ông M gửi ngân hàng Đ u t và phát triển vào năm 2015 số tiền 150 000 000 đồng, à nguồn tiền từ
ng h u của hai v chồng (vì ng của à ỏ ra để chi sinh hoạt cu c sống hàng ngày, còn ng của ông M để gửi tiết kiệm), toàn số tiền này, ông M cho à của các con riêng cho ông à không đúng, à đề nghị chia đôi mỗi ng i h ởng 75 000 000 đồng
Ngoài ra, việc ông M xác định có còn có 09 chỉ vàng do à quản ý à không có, số tài sản này đã án chi tiêu gia đình hết M t 01 số tài sản khác nh àn ghế, gi ng, đệm, quạt, nồi, g ng ông M muốn ấy tài sản gì thì ấy, à không yêu c u Toà án giải quyết
Về vay n : V chồng à không vay n chung, không yêu c u Tòa án giải quyết
Về tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản: Bà đề nghị giải quyết theo quy định pháp u t
Vụ án trên đã đ c Tòa án nhân dân thành phố T xác minh, thu th p tài liệu, chứng cứ; hòa giải không thành và đã đ a vụ án ra xét xử. Tại Bản án Hôn nhân gia đình s thẩm số: 274/2018/HNGĐ-ST, ngày 05/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố T, Quyết định:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; các Điều 147, 157, 165, 266, 271, 273 B u t tố tụng dân sự; Điều 51; 55, 59 , 62 Lu t Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc h i
1 Công nh n sự thu n tình y hôn giữa ông Nguyễn Hồng M và bà Tr n Thị L.
2 Về tài sản chung:
- Xử cho à Tr n Thị L đ c quyền sở hữu, sử dụng diện tích nhà đất gồm diện tích đất diện tích 70,2m2, nhà xây 02 t ng tại SN 42, tổ 06, ph ng M, thành phố Tuyên Quang, đ c giới hạn ởi các điểm 1, 2, 3, 4, 1: H ớng Nam giáp đ ng Hoàng Hoa T giới hạn ởi điểm 1- 4 có kích th ớc à 2,9 m, h ớng Tây Bắc giáp nhà ông Hoàng Văn N giới hạn ởi điểm 1- 2 có kích th ớc 23,4 m, h ớng Đông Nam giáp nhà ông Tr n Văn T giới hạn ởi điểm 3- 4 có kích th ớc 23,4 m, h ớng Đông Bắc giới hạn ởi điểm 2- 3 có kích th ớc 3,1m (có s đồ hiện trạng kèo theo) Đất đã đ c UBND thị xã Tcấp GCNQSD đất số AĐ835494, số vào sổ H 01253, ngày 14/7/2006, tại thửa đất số 02203 24 72, t ản đồ số 24 mang tên h bà Tr n Thị L và ông Nguyễn Hồng M, giá trị đất à 186 703 900đ (Một trăm tám mươi sáu triệu bảy trăm linh ba nghìn nghìn chín trăm đồng), giá trị nhà xây công trình trên đất à 115 450 176đ (Một trăm mười lăm triệu bốn trăm năm mười nghìn một trăm bảy mươi sáu đồng) và các tài sản gồm: 01 máy gi t giá trị à 1 475 000đ (Một triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), 01 máy c n ớc giá trị à 1 375 000đ (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), 01 tủ ạnh à 300 000đ (Ba trăm nghìn đồng), tổng c ng các tài sản có giá trị à 305 304 076đ (Ba trăm linh năm triệu ba trăm linh bốn nghìn không trăm bảy mươi sáu đồng). Bà Tr n Thị L có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Hồng M số tiền chênh ệch tài sản à 126 469 148đ (Một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn một trăm bốn mươi tám đồng).
Bà Tr n Thị L đ c quyền sở hữu số tiền tiết kiệm à 75 000 0000đ (Bảy mươi lăm triệu đồng) hiện ông Nguyễn Hồng M đang quản ý, đối trừ vào số tiền chênh ệch tài sản bà L phải trả cho ông M à 126 469 148đ (Một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn một trăm bốn mươi tám đồng). Bà Tr n Thị L còn phải trả cho ông Nguyễn Hồng M số tiền chênh ệch à 51 469 148đ (Năm mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn một trăm bốn mươi tám đồng).
- Ông Nguyễn Hồng M đ c quyền sở hữu các tài sản gồm: 01 Điều hoà giá trị à 12 975 000đ (Mười hai triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), 01 ti vi giá trị à 2 050 000đ (Hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), 75 000 000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền tiết kiệm
Ông M đ c quyền sở hữu tiền chênh ệch tài sản bà L trả à 126 469 148đ (Một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn một trăm bốn mươi tám đồng), đối trừ vào số tiền ông M phải trả cho bà L 75 000 000 đồng, ông M còn đ c h ởng số tiền chênh ệch do à Tr n Thị L phải trả 51 469 148đ (Năm mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn một trăm bốn mươi tám đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá tài sản, án phí, quyền kháng cáo của các đ ng sự.
Ngày 19 tháng 10 năm 2018 nguyên đ n ông Nguyễn Hồng M có đ n kháng cáo với n i dung: Không nhất trí với bản án s thẩm đề nghị xem xét lại giá nhà đất, theo ông M giá nhà đất thấp nhất à 700 000 000 đồng. Không nhất trí chia sổ tiết kiệm số tiền 150.000.000 đồng cho bà L 75 000 000 đồng vì đây à tiền mà các con ông cho để sử dụng trong lúc khó khăn, không chung với ai, không liên quan đến tiền ng; số tiền này ông đã sử dụng để đi chữa trị khi bị tai nạn Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết Ngày 28 tháng 02 năm 2018 ông M có đ n thay đổi n i dung kháng cáo ông không yêu c u định giá ại tài sản, nh ng yêu c u Tòa án giải quyết chia nhà vì hiện ông tuổi đã cao và không có chỗ ở nên đề nghị Tòa án chia cho ông và bà L mỗi ng i ở m t t ng tại căn nhà chung của ông bà, ho c bà L nhất trí thì ông mua lại của bà L với giá 302.154.076 đồng.
- Ngày 19/10/2018 bị đ n à Tr n Thị L kháng cáo không nhất trí với bản án s thẩm chia cho ông Nguyễn Hồng M 40% giá trị quyền sử dụng đất vì thửa đất số 02203.24.72, t bản đồ số 24 đ c cấp Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số AĐ 835494 ngày 14/7/2006 mang tên Tr n Thị L và Nguyễn Hồng M à đất riêng của bà L mua của bà Vũ Thị M năm 1990 và đ c cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất năm 1991 mang tên à Tr n Thị L, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đ n, ng i bảo vệ quyền l i ích h p pháp của ông Nguyễn Hồng M giữ nguyên yêu c u kháng cáo và đề nghị: Khoản tiền tiết kiệm 150.000.000 đồng là của riêng ông và ông đã sử dụng vào việc chữa bệnh hết, ông M đã xuất trình các biên lai thu tiền Viện phí cho tòa án cấp phúc thẩm. Đối với nhà và đất tuy không đề nghị định giá lại nh ng đề nghị Tòa áp mức giá theo định mức quy định của UBND tỉnh Tuyên Quang và do có công sức đóng góp nh khi về chung sống với bà L ông cũng có nhà cửa đất đai và đã án đi sau đó sát nh p vào khối tài sản chung với bà L, hàng tháng ng h u của ông cao h n
ng bà L vì v y ph n đóng góp vào khối tài sản chung lớn h n ph n của bà L vì v y đề nghị HĐXX chia tài sản cho ông M 50% tổng giá trị. Về nhu c u nhà ở ông M đề nghị Tòa phân chia lại vì ông không có chỗ ở, tuổi đã cao, đề nghị đ c bố trí ở 1 t ng của ngôi nhà ho c mua lại của bà L với giá 350.000.000 đồng.
Ng i ảo vệ quyền và i ích h p pháp của ông Nguyễn Hồng M đề nghị: Tuy không đề nghị định giá lại nh ng giá theo quy định của UBND tỉnh Tuyên Quang quy định khu vực đ ng nhà bà L ông M à 4 800 000đ/m2 Đề nghị HĐXX phúc thẩm áp mức giá này để tính toán phân chia lại tài sản và thực hiện việc phân chia bố trí chỗ ở cho ông M để đảm bảo quyền l i ích h p pháp của ông M Đối với khoản tiền tiết kiệm 150.000.000 đồng là khoản tiền tài sản riêng của ông M, h n nữa số tiền này ông M đã sử dụng vào việc chi trả tiền viện phí điều trị trong quá trình bị tai nạn, vì v y không còn để chia.
Bị đ n à Tr n Thị L đề nghị: Đất đai bà L mua của bà M từ những năm 1990, vì v y bà không nhất trí chia đất cho ông M, đối với nhà và các tài sản khác bà nhất trí chia đôi, về giá trị ngôi nhà đã xây dựng từ năm 2000 nên khấu hao nhiều, việc Tòa án nhân dân thành phố T tiến hành định giá theo đúng quy định, khi định giá cũng nh quá trình giải quyết ở Tòa án nhân dân thành phố T cả bà và ông M đều nhất trí với kết quả định giá. Việc ông M đề nghị áp giá nhà n ớc bà không nhất trí, đồng th i cũng không nhất trí việc bán lại căn nhà cho ông M.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về việc chấp hành pháp lu t tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của B lu t tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, H i đồng xét xử đã thực hiện đảm bảo các thủ tục về phiên tòa phúc thẩm, sự có m t của các thành viên H i đồng xét xử, Th ký phiên tòa đúng quy định của B lu t tố tụng dân sự Các đ ng sự thực hiện đúng các quy định tại Điều 70; Điều 71; Điều 72 B lu t tố tụng dân sự Đ n kháng cáo của nguyên đ n ông Nguyễn Hồng M và à ị đ n à Tr n Thị L là h p lệ trong hạn lu t định, n i dung kháng cáo nằm trong n i dung bản án s thẩm.
Về n i dung: Về nguồn gốc thửa đất các ên đều thừa nh n là của bà Tr n Thị L có từ tr ớc khi kết hôn với ông Nguyễn Hồng M, sau khi kết hôn có xây dựng, cải tạo nhà trên đất. Năm 2006 ông M, bà L đã đổi cấp lại giấy chứng nh n quyền sử dụng đất mang tên Tr n Thị L, Nguyễn Hồng M, Tòa án cấp s thẩm xác định là tài sản chung và dựa trên nguồn gốc đã chia cho ông M 40% giá trị quyền sử dụng đất và 50% giá trị nhà và các tài sản khác là phù h p, c n bác kháng cáo của bà L, ông M về ph n tài sản chung này.
Về khoản tiền tiết kiệm với số tiền là 150 000 000 đồng là tài sản hình thành trong th i kỳ hôn nhân, sổ tiết kiệm đứng tên ông M do bà L giữ, đủ căn cứ xác định đây à tài sản chung của v chồng, vì v y Toà án cấp s thẩm xác định đây à tài sản chung của v chồng và phân chia số tiền này cho ông M, bà L à đúng quy định.
Ông M xuất trình các biên lại thể hiện việc đi ệnh viện điều trị hết 204.000.000 đồng (Hai trăm linh tư triệu đồng), tuy nhiên các biên lai h p pháp chỉ có 57.972. 245 đồng (Năm mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm bốn mươi lăm đồng) là có chứng từ h p pháp. M t khác tại biên bản thỏa thu n ngày 09/01/2018 giữa gia đình ông M và ng i gây tại nạn, chỉ yêu c u bên gây tai nạn bồi th ng 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng), vì v y không có căn cứ xác định ông M dùng khoản tiền tiết kiệm để đi chữa bệnh, c n bác kháng cáo của ông M giữ nguyên n i dung bản án s thẩm về n i dung này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã đ c xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nh n định:
1. Về yêu c u kháng cáo của ông Nguyễn Hồng M: êu c u Tòa án chia nhà vì hiện nay ông tuổi đã cao, không có chỗ ở, và yêu c u kháng cáo của bà L không nhất trí với bản án s thẩm chia cho ông Nguyễn Hồng M 40% giá trị quyền sử dụng đất vì thửa đất số 02203.24.72, t bản đồ số 24 đ c cấp Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất số AĐ 835494 ngày 14/7/2006 mang tên Tr n Thị L và Nguyễn Hồng M à đất riêng của bà L mua của bà Vũ Thị M năm 1990 và đ c cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất năm 1991 mang tên à Tr n Thị L, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết.
HĐXX thấy rằng: Về nguồn gốc đất là do bà L đã mua tr ớc khi kết hôn với ông M, khi mua đã có 01 nhà xây cấp 4. Sau khi kết hôn đến năm 1999 ông M và bà L đã xin cấp phép xây dựng nhà và ông M, bà L đã xây dựng cải tạo, sữa chữa nhà Năm 2006 bà Lvà ông M bàn bạc làm lại giấy chứng nh n, bà L có đến trực tiếp kê khai, đăng ký và ký vào các văn ản để làm thủ tục cấp giấy, còn ông M đi àm, đến 14/7/2006 đ c cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất mang tên h bà Tr n Thị L và ông Nguyễn Hồng M, sau đó bà L à ng i trực tiếp lấy Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất về quản lý từ đó đến nay không có ý kiến gì, nh v y đủ căn cứ xác định tài sản nhà, đất là tài sản chung của v chồng, vì v y Toà án cấp s thẩm xác định đây à tài sản chung của v chồng là phù h p và dựa trên nguồn gốc tài sản nh n định và chia cho bà L 60% giá trị quyền sử dụng đất bằng 112 022 340 đồng, ông M đ c chia 40% giá trị quyền sử dụng đất bằng 74 681 560 đồng, tài sản trên đất chia đôi mỗi ng i đ c h ởng bằng 57.725.088 đồng là phù h p quy định của pháp lu t. Khi xét xử s thẩm ông M ở với các con và quá trình giải quyết xét xử chỉ đề nghị Toà án giải quyết việc chia tài sản chung theo pháp lu t vì v y Toà án chia tài sản chung và giao cho bà L đ c quản lý sử dụng nhà và đất và thanh toán chênh lệch cho ông M theo tỉ lệ 40% giá trị đất và 50% giá trị nhà là phù h p.
Tại giai đoạn phúc thẩm ông M nêu hiện nay ông M đang ở nh các con riêng, không có chỗ ở vì v y đề nghị Toà án xem xét phân chia tài sản bố trí chỗ ở cho ông M đ c ở t ng 2, tại ngôi nhà là tài sản chung của 2 ông bà. Về yêu c u kháng cáo này của ông M HĐXX thấy rằng về nguồn gốc đất là của bà L mua tr ớc khi kết hôn với ông M, quá trình sử dụng thì nh p vào tài sản chung, hiện tại bà L cũng sống đ n thân, bà L không có con riêng và không còn n i n ng tựa nào khác và trên thực tế bà L đang ở tại diện tích đất trên nên xử giao cho bà L đ c quyền sở hữu, sử dụng diện tích nhà đất và phải trả chênh lệch trị giá tài sản cho ông M nh Toà án cấp s thẩm phán quyết là phù h p, không có căn cứ chấp nh n kháng cáo của ông M cũng nh kháng cáo của bà L về tài sản chung là thửa đất và ngôi nhà, giữ nguyên ph n quyết định bản án s thẩm đã phân chia về diện tích đất và ngôi nhà của ông M, bà L.
2. Về kháng cáo của ông M không nhất trí chia 150.000.000 đồng tiền tiết kiệm, HĐXX thấy rằng: Số tiền 150 000 000 đồng gửi tiết kiệm gồm: 100.000.000 đồng gửi ngày 02/10/2017 và 20 000 000 đồng gửi ngày 17/10/2017 tại Ngân hàng B u điện Liên Việt chi nhánh Tuyên Quang Phòng giao dịch B u điện M và số tiền 30 000 000 đồng gửi ngày 16/8/2017 tại Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang, sổ tiết kiệm đứng tên ông Nguyễn Hồng M. Xét thấy số tiền 150 000 000 đồng là tài sản hình thành trong th i kỳ hôn nhân, sổ tiết kiệm đứng tên ông M nh ng do bà L cất giữ, đủ căn cứ xác định đây à tài sản chung của v chồng, vì v y Toà án cấp s thẩm xác định đây à tài sản chung của v chồng và phân chia số tiền này cho ông M, bà L là đúng quy định.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm ông M trình bày khoản tiền này đã rút để điều trị khi bị tai nạn giao thông và xuất trình các biên lai thu viện phí, Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang có quyết định thu th p chứng cứ đã có văn ản đề nghị Bệnh viện H - Phú Th , bệnh viện V - Hà N i cung cấp các tài liệu chứng từ liên quan đến việc chữa trị của ông Nguyễn Hồng M;
Tại công văn số 216/2019/BVHV ngày 07/4/2019 của Bệnh viện H phúc đáp số tiền chữa trị của ông M từ ngày 30/12/2017 đến ngày 05/01/2018 ph n bệnh nhân phải n p à 3 805 000đ, tuy nhiên ông M xuất trình Hóa đ n GTGT ngày 05/01/2018 với số tiền là 5.212.576 đồng.
Bệnh viện V - Hà N i không có văn ản phúc đáp, ngày 28/5/2019 ông M có đ n đề nghị không thu th p các tài liệu này, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang giải quyết theo quy định và theo các biên lai, chứng từ ông M đã n p ở phiên toà phúc thẩm ngày 26/3/2019.
HĐXX thấy rằng về số tiền chữa trị của ông M tại các bệnh viện nh ông M kê khai là 204.986.400 đồng nh ng chỉ có m t số khoản có hóa đ n chứng từ h p lệ cụ thể:
1. Điều trị tại bệnh viện đa khoa Tuyên Quang:
Đợt 1 từ ngày 30/10/2017 đến 03/11/2017 tổng 1.550.000 đồng (Có biên lai, hóa đ n h p lệ).
Đợt 2 từ 19/11/2017 đến 18/12/2017: Các biên lai sau là h p lệ
Đ n thuốc 20/11/2017 + Hóa đ n án ẻ: 4.820.000 đồng.
Đ n thuốc 01/11/2017: 1.100.000 đồng
Đ n thuốc 23/11/2017: 75.000 đồng
Đ n thuốc 23/11/2017 1.380.000 đồng
Hóa đ n án ẻ của BV đa khoa TQ: 28/11/217: 1 910 000 đồng;
Hóa đ n án ẻ 01/12/2017 của BV đa khoa TQ 3 600 000 đồng;
Đ n thuốc 01/12/2017 của BV đa khoa 150 000 đồng;
Hóa đ n án lẻ của nhà thuốc bv; 2.810.000 đồng;
Đ n thuốc 11/12/2017 3.400.000 đồng;
Tổng đợt 2: 19.245.000đ
2. Điều trị tại bệnh viện V – Hà Nội: 31.965.400 đồng (có iên ai, hóa đ n h p lệ).
3. Điều trị tại Bệnh viện H - Phú Thọ: 5.212.576 đồng
Tổng cộng: 57.972.976 đồng
Đối với các khoản nguyên đ n kê khai nh chi phí cho ông M đ t 5 sau khi ra viện số tiền 48.584.000 đồng và tiền thuê ng i chăm sóc 47 500 000 đồng, các khoản kê khai này không có hóa đ n chứng từ h p lệ và không có căn cứ.
Ngoài ra việc ông M bị tai nạn, thì trách nhiệm bồi th ng thiệt hại thu c về ng i gây tai nạn, sau khi bị tai nạn và đi các ệnh viện điều trị xong đ c ra viện ngày 05/1/2018 đến ngày 09/01/2019 gia đình ông M và gia đình ng i gây tai nạn đã thỏa thu n việc bồi th ng dân sự trong đó số tiền ông Nguyễn Hồng M đ c ng i gây tai nạn bồi th ng là 60.000.000 đồng số tiền bồi th ng này phù h p với các biên lai, chứng cứ h p lệ cũng nh tổng số tiền ghi trong biên lai mà ông M xuất trình đ c cho HĐXX phúc thẩm, vì v y không có căn cứ chấp nh n kháng cáo của ông Nguyễn Hồng M về n i dung này c n giữ nguyên bản án s thẩm.
Vì những phân tích đánh giá nêu trên, HĐXX thấy c n bác toàn b kháng cáo của ông Nguyễn Hồng M và bà Tr n Thị L giữ nguyên bản án s thẩm của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang về ph n chia tài sản chung của v chồng khi ly hôn.
3. Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Do yêu c u kháng cáo của nguyên đ n, ị đ n không đ c chấp nh n nên nguyên đ n, ị đ n phải chịu án phí theo quy định của pháp u t, tuy nhiên ông M và bà L đều à ng i cao tuổi nên miễn toàn b án phí phúc thẩm cho ông M, bà L.
Các ph n khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 B lu t tố tụng dân sự năm 2015
Điều 51; 55, 59, 62 Lu t Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc h i
1. Không chấp nh n kháng cáo của ông Nguyễn Hồng M và bà Tr n Thị L, giữ nguyên ản án n i dung ản án s thẩm về tài sản chung nh sau:
- Xử cho à Tr n Thị L đ c quyền sở hữu, sử dụng diện tích nhà đất gồm diện tích đất diện tích 70,2m2, nhà xây 02 t ng tại SN 42, tổ 06, ph ng M, thành phố T, đ c giới hạn ởi các điểm 1, 2, 3, 4, 1: H ớng Nam giáp đ ng Hoàng Hoa T giới hạn ởi điểm 1- 4 có kích th ớc à 2,9 m, h ớng Tây Bắc giáp nhà ông Hoàng Văn N giới hạn ởi điểm 1- 2 có kích th ớc 23,4 m, h ớng Đông Nam giáp nhà ông Tr n Văn T giới hạn ởi điểm 3- 4 có kích th ớc 23,4 m, h ớng Đông Bắc giới hạn ởi điểm 2- 3 có kích th ớc 3,1m (có s đồ hiện trạng kèm theo ản án s thẩm) Đất đã đ c UBND thị xã T cấp GCNQSD đất số AĐ835494, số vào sổ H 01253, ngày 14/7/2006, tại thửa đất số 02203 24 72, t ản đồ số 24 mang tên h bà Tr n Thị L và ông Nguyễn Hồng M, giá trị đất à 186 703 900 đồng (Một trăm tám mươi sáu triệu bảy trăm linh ba nghìn nghìn chín trăm đồng), giá trị nhà xây công trình trên đất à 115 450 176 đồng (Một trăm mười lăm triệu bốn trăm năm mười nghìn một trăm bảy mươi sáu đồng) và các tài sản gồm: 01 máy gi t giá trị à 1.475.000 đồng (Một triệu bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), 01 máy c n ớc giá trị à 1 375 000 đồng (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), 01 tủ ạnh là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tổng c ng các tài sản có giá trị à 305.304.076 đồng (Ba trăm linh năm triệu ba trăm linh bốn nghìn không trăm bảy mươi sáu đồng). Bà Tr n Thị L có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Hồng M số tiền chênh ệch tài sản à 126 469 148 đồng (Một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn một trăm bốn mươi tám đồng).
Bà Tr n Thị L đ c quyền sở hữu số tiền tiết kiệm à 75 000 0000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng) hiện ông Nguyễn Hồng M đang quản ý, đối trừ vào số tiền chênh ệch tài sản bà L phải trả cho ông M là 126.469.148 đồng (Một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn một trăm bốn mươi tám đồng). Bà Tr n Thị L còn phải trả cho ông Nguyễn Hồng M số tiền chênh ệch à 51.469.148 đồng (Năm mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn một trăm bốn mươi tám đồng).
- Ông Nguyễn Hồng M đ c quyền sở hữu các tài sản gồm: 01 Điều hoà giá trị là 12.975.000 đồng (Mười hai triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), 01 ti vi giá trị à 2 050 000 đồng (Hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), 75.000.000 đồng (Bảy mươi lăm triệu đồng) tiền tiết kiệm
Ông M đ c quyền sở hữu tiền chênh ệch tài sản bà L trả à 126.469.148 đồng (Một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn một trăm bốn mươi tám đồng), đối trừ vào số tiền ông M phải trả cho bà L 75 000 000 đồng, ông M còn đ c h ởng số tiền chênh ệch do à Tr n Thị L phải trả 51 469 148 đồng (Năm mươi mốt triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn một trăm bốn mươi tám đồng).
Khoản tiền phải trả kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và ông Nguyễn Hồng M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trần Thị L chậm trả tiền thì phải chịu thêm khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả thực hiện theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Miễn toàn b án phí phúc thẩm hôn nhân gia đình cho ông Nguyễn Hồng M, bà Tr n Thị L.
Các ph n khác của Bản án s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án, ngày 02/7/2019./.
Trường hợp bản án Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà N i; - VKSND Cấp cao tại Hà N i; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - TAND thành phố T; - Chi cục THADS thành phố T; - Các đ ng sự; - L u hồ s | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đ ) Ma Ngọc Trung |