- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị M - Tô Thị T"
- Tòa quyết gì? ðiều 357, ðiều 463, ðiều 466, khoản 2 ðiều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2019/DS-ST Ngày: 01/10/2019 V/v: Tranh chấp hợp ñồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội ñồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Kim Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Xuân Thường
2. Ông Hà Quốc Trung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Bình
- ðại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy ðức - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 02/2019/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2019 về:“Tranh chấp hợp ñồng vay tài sản” theo Quyết ñịnh ñưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QðXX - ST ngày 12 tháng 8 năm 2019 và Thông báo mở lại phiên tòa số: 04/TB-TA ngày 13 tháng 9 năm 2019 giữa các ñương sự:
1. Nguyên ñơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968
Ông Lưu Văn H, sinh năm 1964
Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái. (Ông H ủy quyền cho bà M khởi kiện và tham gia tố tụng. Bà M có mặt).
2. Bị ñơn: Bà Tô Thị T, sinh năm 1983
Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1981 Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
(Bà T, ông N vắng mặt)
3. Người làm chứng:
- Ông Lưu Văn D, sinh năm 1974. Vắng mặt. Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975. Vắng mặt. Nơi cư trú: Thôn G, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái
- Anh Trần Mạnh L, sinh năm 1984. Vắng mặt. Nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại ñơn khởi kiện ñề ngày 28/3/2019, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên ñơn bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H (do bà Nguyễn Thị M ñại diện) trình bày:
Gia ñình ông bà và gia ñình ông Nguyễn Văn N, bà Tô Thị T có quan hệ làm ăn. Trong khoảng thời gian từ năm 2015-2016 gia ñình bà T nhiều lần vay tiền của ông bà, vay nóng, số tiền không lớn nên không làm giấy tờ gì, bà T, ông N thường trả ñúng hạn theo thỏa thuận. Vì có lòng tin nên ñến ñầu năm 2016 bà T, ông N ñã nhiều lần vay tiền của ông bà, với số tiền lớn nên hai bên viết giấy vay nợ với nhau cụ thể:
- Ngày 14/4/2016 vay số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu ñồng) (có người làm chứng là bà Nguyễn Thị T);
- Ngày 08/5/2016 vay số tiền 100.000.000 (một trăm triệu ñồng) (người làm chứng ông Trần Mạnh L).
- Ngày 06/7/2016 vay thêm số tiền 100.000.000 ñồng nên bà T lập lại giấy vay tiền với tổng số tiền 400.000.000 ñồng và bỏ các giấy tờ vay trước ñi. Thỏa thuận sau 1 tháng sẽ trả cả gốc và lãi (lãi theo thỏa thuận cụ thể bà không nhớ chính xác).
ðến tháng 12/2016 bà T, ông N lại hỏi vay nóng tiền. Bà không nhớ chính xác ngày, vay 2 lần, 1 lần số tiền 100.000.000 (một trăm triệu ñồng) và 01 lần khác số tiền 360.000.000 (ba trăm sáu mươi triệu ñồng) vay nóng, các giấy tờ vay ñều có chữ ký của người làm chứng ông Lưu Văn D, ñối với số tiền này ñến hẹn bà T, ông N ñã trả hết cho bà. Do ñã trả nên các giấy tờ vay nợ bà ñã trả lại cho bà T, ông N nên ngày tháng cụ thể bà không nhớ, lãi suất bà không nhớ rõ. Còn toàn bộ các giấy tờ khác của bà T, ông N xuất trình là không ñúng vì không có chữ ký của bà. Mặt khác nếu ñã vay chưa trả thì bà phải cầm giấy tờ gốc, khi nào vay trả hết bà hủy giấy hoặc trả giấy cho người ñã vay. Vì vậy ñối với các khoản tiền vay tháng 12/2016 ñã trả hết, không liên quan ñến việc bà khởi kiện trong vụ án này.
ðối với khoản tiền vay 400.000.000 (bốn trăm triệu ñồng) vay ngày 06/7/2017 ñến hẹn bà T, ông N không trả ñược cho ông bà, bà ñã yêu cầu viết lại giấy tờ nhưng bà T không có tiền hẹn lại sau một năm nữa sẽ trả và tự tay sửa vào tờ giấy vay tiền ngày 06/7/2016 thành ngày 06/7/2017. Bà ñồng ý nên hai bên ñã thống nhất chốt số tiền vay tính lại bắt ñầu từ ngày 06/7/2017 (vì vậy giấy vay tiền ngày 06/7/2016 không còn nữa). Từ ñó bà T, ông N chỉ trả lãi ñược ñến ngày 24/9/2017. Ông bà ñã nhiều lần yêu cầu bà T, ông N phải trả tiền, nhưng bà T, ông N không trả cho ông bà ñược khoản nào.
Trong năm 2017 bà T, ông N ñã bán vật liệu cho gia ñình ông bà và một số gia ñình trong thôn là anh em nhà ông bà, ông bà ñã nhận và trực tiếp thu tiền từ các hộ mà bà T, ông N bán vật liệu xây dựng. Ngoài ra bà T chuyển khoản trả cho bà số tiền là 10.000.000 ñồng. Cộng với số tiền vật liệu xây dựng bà ñã thu tiền, tổng là 75.193.000 ñồng. Số tiền này bà lấy làm nhiều lần khác nhau, lần cuối cùng bà T trả cho bà là ngày 24/9/2017. Do bà ñã nhận nợ với các hộ nên bà T là người cầm các hóa ñơn bán hàng nộp cho Tòa án. Các hóa ñơn ñó bà thừa nhận ñúng, bà không có ý kiến gì. Nay ông bà trừ số tiền bà T, ông N ñã trả là 75.193.000 ñồng (Bẩy mươi lăm triệu một trăm chín mươi ba nghìn ñồng) trừ vào số tiền nợ gốc cụ thể: 400.000.000 ñồng – 75.193.000 ñồng = 324.807.000 ñồng (ba trăm hai mươi bốn triệu tám trăm linh bẩy nghìn ñồng).
Nay ông bà yêu cầu bà T, ông N trả cho ông bà số tiền nợ gốc còn lại là 324.807.000 ñồng (ba trăm hai mươi bốn triệu tám trăm linh bẩy nghìn ñồng), lãi suất 12%/năm (tương ñương 1%/tháng) tình từ ngày 25/9/2017 ñến ngày xét xử 01/10/2019 là 324.807.000 ñồng x 1%/tháng x 24 tháng 6 ngày = 78.603.294 ñồng (làm tròn số 78.603.000 ñồng). Tổng cả gốc và lãi là 403.410.000 ñồng (Bốn trăm linh ba triệu bốn trăm mười nghìn ñồng).
Bà T, ông N khai ông bà cho vay lãi 3.000 ñồng ñến 4.000 ñồng/ngày/triệu là không ñúng. Nếu ông bà cho vay lãi cao mà bà T, ông N không trả ñược cho ông bà thì không có lý do gì ñến tháng 12/2016 bà lại tiếp tục cho vay tiền nữa. Hơn nữa bà có chứng cứ là bản kê chi tiết tin nhắn ngày 11/4/2018 bà và bà T có nhắn tin trao ñổi về số tiền nợ trong ñó có nội dung thể hiện khoản tiền lãi bà tính lãi trực tiếp gửi cho bà T là 1%/tháng. Bản sao kê tin nhắn bà ñã nộp cho Tòa án. Hơn nữa từ ngày 06/7/2016 ñến ngày 24/9/2017 bà T, ông N trả lãi cho bà nhưng với khoản tiền không ñáng kể, bà không nhớ rõ. Từ ngày 25/9/2017 ñến nay không trả cho bà ñược khoản tiền nào.
Do ông Lưu Văn H không trực tiếp khởi kiện và tham gia tố tụng ñược nên ñã có văn bản ủy quyền cho bà Nguyễn Thị M ngày 19/3/2019 có nội dung thể hiện ủy quyền khởi kiện, tham gia tố tụng và quyết ñịnh toàn bộ các vấn ñề liên quan trong vụ án (Giấy ủy quyền có xác nhận của UBND xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái).
Tại bản tự khai ngày 05/4/2019 của bị ñơn bà Tô Thị T và bản tự khai ngày 03/5/2019 của bị ñơn ông Nguyễn Văn N trình bày: Gia ñình ông bà với gia ñình ông H, bà M có mối quan hệ làm ăn với nhau. Ngày 21/6/2016, ông bà có vay của ông H, bà M số tiền 60.000.000 ñồng, khi vay có làm giấy vay tiền viết tay thỏa thuận lãi 4.000 ñồng/triệu/ngày, sau khi vay ñã trả ñược cho bà M một khoản tiền lãi nhưng không nhớ cụ thể là bao nhiêu. ðến ngày 14/12/2016, ông bà lại vay của bà M, ông H số tiền 100.000.000 ñồng, khi vay cũng làm giấy vay tiền thỏa thuận thời hạn vay 10 ngày, lãi suất thỏa thuận ngoài 4.000 ñồng/ngày/triệu. Do khoản tiền lãi của số tiền 60.000.000 ñồng vay ngày 21/6/2016 ông bà không trả ñược, vì vậy ñã thống nhất cộng cả hai khoản vay gốc 60.000.000 ñồng, khoản 100.000.000 ñồng và khoản tiền lãi của số tiền 60.000.000 ñồng, tổng thành số tiền 360.000.000 ñồng và lập giấy vay tiền mới ngày 14/12/2016, cả hai giấy vay tiền ngày 14/12/2016 ñều có ông Lưu Văn D là công an viên xã M làm chứng. ðến ngày 20/12/2016, ông bà ñã trả cho bà M số tiền gốc 100.000.000 ñồng, số tiền gốc còn nợ lại bà M là 260.000.000 ñồng. Sau ñó ông bà có bán sắt thép, vật liệu xây dựng cho gia ñình bà M làm nhà, số tiền bán ñược ñều ñã trừ vào số tiền ông bà vay. Tính ñến ngày 01/6/2017 tiền lãi, tiền nợ gốc thì hai bên ñã chốt số nợ là 400.000.000 ñồng và lập thành giấy vay tiền mới, ông bà không nhớ ñược số tiền lãi cụ thể là bao nhiêu. Tất cả các giấy tờ vay tiền ông bà ñều giữ. Do làm ăn kinh tế gặp khó khăn nên ông bà không trả ñược tiền cho bà M, ông H. Trong năm 2017, ông bà ñã chuyển khoản cho bà M số tiền 10.000.000 ñồng, ngoài ra còn bán vật liệu xây dựng cho bà M và một số hộ gia ñình trong thôn, bà M ñã ñứng ra nhận lấy toàn bộ số tiền của các hộ. Tổng số tiền hàng và tiền chuyển khoản ông bà ñã trả cho bà M, ông H ñược 75.193.000 ñồng (Bẩy mươi lăm triệu một trăm chín mươi ba nghìn ñồng). Từ ñó ñến nay ông bà không trả ñược khoản nào nữa.
Nay bà M, ông H khởi kiện yêu cầu ông bà phải trả số tiền nợ gốc 400.000.000 ñồng là khoản tiền lãi 68.000.000 ñồng, tổng là 468.000.000 ñồng. Ông bà không ñồng ý. Vì số tiền 400.000.000 ñồng theo giấy vay tiền là khỏan tiền cộng cả khoản tiền lãi cao mới lên ñến số tiền ñó, thực chất ông bà chỉ vay của ông H, bà M 160.000.000 ñồng tiến gốc. Nay ông bà chỉ ñồng ý trả 160.000.000 ñồng tiền gốc và tính lãi suất 12%/năm ñối với khoản tiền 160.000.000 ñồng tính lãi ñến ngày 05/4/2019 là 45.768.800 ñồng, cộng cả gốc và lãi là 209.228.800 ñồng trừ ñi số tiền chuyển khoản và tiền hàng bà M ñã nhận cụ thể: 209.228.800 ñồng - 75.193.000 ñồng = 134.035.800 ñồng.
Quá trình giải quyết vụ án những người làm chứng ông Lưu Văn D, bà Nguyễn Thị T, anh Trần Mạnh L ñều khai như sau: Trong thời gian họ làm cho nhà bà M, ông H thì có bà Tô Thị T ñến nhà bà M vay tiền, tại nhà bà M, bà T ñã nhờ họ ký là người làm chứng trong các giấy vay tiền khác nhau, thời ñiểm khác nhau. Về nội dung vay, khoản tiền vay, lãi suất, thời hạn trả nợ họ ñều không biết. Nay ông D, bà T, anh L ñề nghị Tòa án không triệu tập họ ñến Tòa án nữa vì những gì biết họ ñã có bản khai nộp Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án ñã tiến hành hòa giải nhưng ñồng bị ñơn chỉ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và có thừa nhận nợ bà M, ông H số tiền 400.000.000 ñồng (bốn trăm triệu ñồng), nhưng bà T ông Ng không tham gia hòa giải, vì vậy vụ án không hòa giải ñược.
Tại phiên tòa, nguyên ñơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của ñại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tại phiên tòa: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội ñồng xét xử ñã thực hiện ñúng các quy ñịnh của pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của ñương sự ñược ñảm bảo ñúng quy ñịnh của pháp luật. ðề nghị HðXX áp dụng ðiều 357, ðiều 463, ðiều 466, khoản 2 ðiều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; ðiều 26, ðiều 35; ðiều 39, ðiều 147, ðiều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 ðiều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy ñịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyền Thị M, ông Lưu Văn H buộc bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N phải trả cho bà M , ông số tiền nợ gốc còn lại là 324.807.000 ñồng (ba trăm hai mươi bốn triệu tám trăm linh bẩy nghìn ñồng) và khoản tiền lãi từ ngày 25/9/2017 ñến ngày xét xử là 65.503.000 ñồng; bà Tô Thị T , ông Nguyễn Văn N phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ðỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án ñược thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội ñồng xét xử nhận ñịnh:
Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H với bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N là “Tranh chấp hợp ñồng vay tài sản” theo quy ñịnh tại ðiều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Yên Bái.
Bị ñơn là bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N ñã ñược Tòa án tống ñạt hợp lệ lần thứ hai nhưng bà T, ông N vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội ñồng xét xử căn cứ các ðiều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị ñơn theo quy ñịnh của pháp luật.
Về pháp luật áp dụng: Hợp ñồng vay tài sản giữa bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H với bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N phát sinh ngày 06/7/2017 thời ñiểm này Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực, vì vậy áp dụng các quy ñịnh của Bộ luật dân sự năm 2015 ñể giải quyết.
[3] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên ñơn bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H yêu cầu Tòa án buộc bị ñơn bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N có trách nhiệm trả cho bà M, ông Hải số tiền 400.000.000 ñồng ñã vay theo giấy vay tiền ngày 06/7/2017. Quá trình giải quyết vụ án, bà T, ông N thừa nhận ñã nhiều lần vay tiền của bà M, ông H mỗi lần vay ñều lập giấy vay tiền với nhau, bà T, ông N ñã xuất trình các giấy vay tiền 21/6/2016 số tiền vay 60.000.000 ñồng; giấy vay tiền ngày 14/12/2016 số tiền vay 100.000.000 ñồng; giấy vay tiền ngày 14/12/2016 số tiền vay 360.000.000 ñồng; giấy vay tiền ngày 01/6/2017 số tiền vay 400.000.000 ñồng. Tuy nhiên bà T, ông N không thừa nhận số tiền 400.000.000 ñồng ñã vay của bà M, ông H mà cho rằng ñó là khoản tiền lãi cao cộng vào khoản tiền gốc nên mới có số tiền ñó, nhưng bà T, ông N không nêu ñược cụ thể số tiền lãi cao là bao nhiêu. Tòa án ñã yêu cầu bà T, ông N cung cấp các chứng cứ chứng minh cho việc vay lãi cao nhưng bà T ông N không hợp tác, không tham gia hòa giải và không nộp các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Mặt khác bà M cho rằng toàn bộ các khoản tiền vay theo các giấy vay tiền mà bị ñơn cung cấp ñó là các khoản vay mà bà T, ông N ñã trả cho bà M nên bà M mới trả lại giấy tờ vay nợ cho bà T, ông N không liên quan ñến khoản tiền vay mà bà M, ông H khởi kiện. Hơn nữa thời hạn vay tình từ ngày 06/7/2017, bà T, ông N mới trả lãi cho bà M ñược ñến ngày 24/9/2017, số tiền trả không ñáng kể bà M không nhớ rõ. Từ ngày 25/9/2017 ñến nay bà T, ông N không trả ñược cho gia ñình bà M khoản tiền nào. Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của các ñương sự, người làm chứng và chứng cứ là giấy vay tiền ngày 06/7/2017 (do bà Tô Thị T viết) mà bà M xuất trình, có ñủ cơ sở xác ñịnh bà T, ông N vay của bà M, ông H số tiền 400.000.000 ñồng. Từ những phân tích nêu trên, HðXX xét thấy cần áp dụng các ðiều 463, ðiều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H ñối với bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N.
Về các khoản tiền mà bà T, ông N ñã bán hàng và chuyển khoản cho bà Nguyễn Thị M với tổng số tiền là 75.193.000 ñồng. Các hóa ñơn bán hàng bà Thanh ñã trực tiếp nộp cho Tòa án, quá trình giải quyết bà M thừa nhận ñúng và ñồng ý trừ số tiền 75.193.000 ñồng vào khoản tiền gốc mà bà T, ông N ñã vay của bà M, số tiền này bà M lấy làm nhiều lần khác nhau, lần cuối cùng bà M lấy tiền ngày 24/9/2017. Xét có căn cứ cần chấp nhận. Vậy số tiền gốc mà bà T, ông N còn phải trả cho bà M là: 400.000.000 ñồng - 75.193.000 ñồng = 324.807.000 ñồng (ba trăm hai mươi bốn triệu tám trăm linh bẩy nghìn ñồng).
Về lãi suất: Quá trình giải quyết vụ án nguyên ñơn bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H yêu cầu bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N phải trả lãi ñối với khoản tiền vay là 12%/ năm, khi vay tiền các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác ñịnh rõ mức lãi suất cụ thể nên áp dụng các quy ñịnh của Bộ luật dân sự năm 2015 ñể giải quyết. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H buộc bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N phải trã lãi cho bà M, ông H nhưng ñiều chính theo mức lãi suất quy ñịnh tại khoản 2 ðiều 468 Bộ luật dân sự ñề tính lãi cụ thể: Khỏan tiền nợ gốc là 324.807.000 ñồng lãi suất 10%/năm, tính từ ngày 25/9/2017 cho ñến ngày xét xử (ngày 01/10/2019) là: 324.807.000 ñồng x 10%/năm x 02 năm 6 ngày = 65.502.745 ñồng (làm tròn số 65.503.000 ñồng).
Lãi suất giai ñoạn thi hành án: Do các bên không thỏa thuận nên thực hiện theo quy ñịnh tại ðiều 357 và Khoản 2 ðiều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí: Bị ñơn bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên ñơn bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Các ñương sự ñược quyền kháng cáo bản án theo quy ñịnh pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ðỊNH:
Áp dụng:
- ðiều 357, ðiều 463, ðiều 466, khoản 2 ðiều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- ðiều 26, ðiều 35; ðiều 39, ðiều 147, ðiều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 2 ðiều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy ñịnh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H.
Buộc bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N phải trả cho bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H số tiền 390.310.000 ñồng (Ba trăm chín mươi triệu ba trăm mười nghìn ñồng) gồm 324.807.000 ñồng tiền gốc và 65.503.000 tiền lãi.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (01/10/2019) cho ñến khi thi hành án xong, bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo mức lãi suất quy ñịnh tại ðiều 357, khoản 2 ðiều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời ñiểm thanh toán.
2. Về án phí: Bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N phải chịu 19.515.500 ñồng (Mười chín triệu năm trăm mười lăm nghìn năm trăm ñồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm (bà T, ông N chưa nộp).
Bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H ñược trả lại số tiền 11.360.000 ñồng (mười một triệu ba trăm sáu mươi nghìn ñồng) ñã nộp tại biên lai số 0003013 ngày 28/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y.
Bà Nguyễn Thị M, ông Lưu Văn H ñược quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Tô Thị T, ông Nguyễn Văn N ñược quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận ñược bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án ñược thi hành theo quy ñịnh tại ñiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người ñược thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các ñiều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành ñược thực hiện theo quy ñịnh tại ñiều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tØnh; - VKSND huyÖn Y; - THA d©n sù huyÖn Y; - C¸c ñương sù; - Lưu HS,TA. | TM. HỘI ðỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHAN - CHỦ TỌA PHIEN TOA (ñã ký ) Hoàng Kim Sơn |