vanban.org

Bản án 04/2019/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V, buộc bị đơn là anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải trả cho bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V số tiền là 150.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.500.000đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án dân sự sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V, buộc bị đơn là anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải trả cho bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V số tiền là 150.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HÀNH
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04 /2019/ DSST
Ngày 21-5-2019
V/v Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Trần Thị Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Anh Tính

2. Ông Nguyễn Quốc Trị

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Nha – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thương Huyền- Kiểm sát viên

Trong ngày 21 tháng 5 năm 2019, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện R, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/ 2018/TLST- DS ngày 28 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2019/QĐXXST - DS ngày 10/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2019/ QĐST-DS ngày 02/5/2019 của Toà án nhân dân huyện R giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Y– sinh năm 1966 Địa chỉ: Thôn Q, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi.

Ông Bùi Tá V – sinh năm 1965 Địa chỉ: Thôn Q, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi. Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Tá V: Bà Huỳnh Thị Y, sinh năm 1966, theo văn bản ủy quyền ngày 04/01/2019.

Đương sự có mặt tại phiên tòa

2. Bị đơn : Ông Võ Văn N – sinh năm 1979 và bà Lâm Ngọc Ánh N1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn X, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Tá V trình bày:

Vào cuối năm 2016, do cần vốn đầu tư trang trại chăn nuôi heo thịt nên anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 đã nhiều lần vay tiền của bà và ông Bùi Tá V, tổng cộng anh N và chị N1 đã vay của bà và ông V số tiền là 150.000.000đồng. Khi vay tiền thì anh N, chị N1 hứa đến khi bán heo sẽ trả lại tiền cho ông, bà. Nhưng từ cuối năm 2016 đến đầu năm 2018, anh N, chị N1 đã bán mấy lứa heo nhưng vẫn không trả tiền cho ông, bà. Đến ngày 11/8/2018 anh N và chị N1 viết giấy ghi nhận có nợ của bà và ông V số tiền là 150.000.000 đồng và anh N, chị N1 hẹn ba tháng sau, tức là đến ngày 11/11/2018 sẽ trả đủ tiền cho bà và ông V. Nhưng kể từ đó đến nay anh N chị N1 không trả nợ, mặc dù bà và ông V đã nhiều lần yêu cầu anh N, chị N1 trả nợ. Mỗi lần ông, bà đến đòi nợ thì anh N, chị N1 đều trốn tránh không gặp mặt ông, bà.

Vì vậy, nay bà và ông V yêu cầu anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải có nghĩa vụ trả cho bà và ông Bùi Tá V số tiền 150.000.000đồng, bà và ông V không yêu cầu anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải trả tiền lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện R đã nhiều lần tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1, nhưng anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 đều vắng mặt không có lý do, nên không có lời khai và không hòa giải về nội dung tranh chấp trong vụ án được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện R phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quy định tại các Điều 70,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V, buộc anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải trả cho bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V số tiền nợ gốc là 150.000.000đồng. Về án phí: Anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Tại Biên bản xác minh tại Công an xã E bị đơn là anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 vẫn có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Thôn X, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi, hiện nay anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 không có mặt tại nơi cư trú, anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 đi đâu, làm gì địa phương không rõ. Tại địa chỉ này hiện nay trang trại và nơi ở của anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 vẫn còn tồn tại, vì vậy vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện R theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng : Trong thời gian vay tiền của bà Y và ông V thì anh Võ Văn N, chị Lâm Ngọc Ánh N1 có địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú là Thôn X, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi. Hiện nay anh N và chị N1 vẫn còn đăng ký hộ khẩu, còn trang trại, nơi ở tại Thôn X, xã E, huyện R, tỉnh Quảng Ngãi, do đó đơn khởi kiện bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1.

Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 277 và khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới”.

Theo điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQHĐTP ngày 05/5/2017 của Tòa án tối cao quy định: “ a) Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;”

Nhưng anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 đã bỏ đi khỏi địa phương, thay đổi nơi cư trú mới mà không thông báo cho bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V biết về nơi cư trú mới nên theo quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật dân sự, điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQHĐTP ngày 05/5/2017 của Tòa án tối cao quy định thì được coi là cố tình giấu địa chỉ, vì vậy vụ án sẽ được xét xử theo thủ tục chung.

Anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 đã bỏ đi khỏi địa phương, gửi ba người con của anh, chị cho cha mẹ đẻ của chị N1 ở tại xã M, huyện R nuôi dưỡng. Tòa án cũng đã xác minh và cha đẻ của chị N1 là ông Lâm Sỹ H đã cung cấp thông tin anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 đi khỏi địa phương, không về thăm con, gia đình ông không biết anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 hiện cư trú, làm việc ở đâu.

Qua xác minh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E cho biết, vào ngày 07/5/2019 anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 có mặt tại địa phương để khai thác cây keo bán, nhưng anh N và chị N1 không xin phép và chưa thực hiện xong nghĩa vụ tại địa phương nên đã bị UBND xã E lập biên bản đình chỉ việc khai thác keo, anh N và chị N1 đã ký tên vào biên bản đình chỉ và sau đó không thấy anh N, chị N1 có mặt tại địa phương nữa.

Tại phiên tòa ngày 02/5/2019, anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa ngày 21/5/2019, anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1.

Bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V cung cấp tài liệu, chứng cứ là bản chính “Giấy mượn tiền” lập ngày 11/8/2018 có tên người viết và ký giấy mượn tiền là anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1. Bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V cũng đã thực hiện việc gửi đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 qua đường bưu chính, Tòa án cũng đã thực hiện thực hiện niêm yết đấy đủ các văn bản tố tụng tại nơi ở, Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú của anh Võ Văn N, chị Lâm Ngọc Ánh N1 và tại Tòa án, nhưng anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho quyền lợi của mình. “Giấy mượn tiền” lập ngày 11/8/2018 có tên người viết và ký giấy mượn tiền là anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1, quá ngày hẹn trả nợ nhưng anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 không trả nợ nên bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V khởi kiện yêu cầu anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải có nghĩa vụ trả số tiền 150.000.000đồng là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V không yêu cầu anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải trả tiền lãi do chậm trả nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện R phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận;

Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 429, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V, buộc bị đơn là anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải trả cho bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V số tiền là 150.000.000đồng ( Một trăm năm mươi triệu đồng)

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh Võ Văn N và chị Lâm Ngọc Ánh N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.500.000đồng.

- Bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà Huỳnh Thị Y và ông Bùi Tá V số tiền 3.750.000đồng mà ông, bà đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0004304 ngày 28/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện R.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ