vanban.org

Bản án 04/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà Đỗ Thị Th trả nợ.

Buộc bà Đỗ Thị Th, sinh năm 1973; có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (trả tại chi nhánh huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) số tiền 7.129.265 đồng trong đó tiền gốc là: 5.281.538 đồng; tiền lãi tính đến hết ngày 10/10/2019 là 1.84… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà Đỗ Thị Th trả nợ."
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà Đỗ Thị Th trả nợ.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƢNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 04/2019/DS - ST
Ngày 10/10/2019
Về Tranh chấp hợp đồng
tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đình Cự

2. Bà Nguyễn Thị Là

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Lê Nhung – Thư ký Tòa án

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa:

Bà Vũ Thị Huế – Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2019/TLST-DS ngày 16/5/2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXX- ST ngày 20/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2019/QĐST - DS ngày 16 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đ

Địa chỉ: 130 P, phường 3, quận P, Tp H

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T1 – Tổng Giám đốc

(Quyết định ủy quyền số 122/QĐ - DAB - HĐQT ngày 27/4/2016)

Người đại diện theo ủy quyền thứ 2: Ông Trần Văn Gi – Giám đốc Chi nhánh Thái Bình – phòng giao dịch Đông Hưng.

(Quyết định ủy quyền số 636/QĐ - DAB - PC ngày 22/5/2018)

Người đại diện được ủy quyền lại: Bà Trần Thị Thanh Th1

Chức vụ: Nhân viên khách hàng cá nhân Ngân hàng TMCP Đ, chi nhánh Thái Bình, Phòng giao dịch Đông Hưng.

(Quyết định ủy quyền số 02/QĐ - DAB – DHG1 ngày 14/3/2019)

- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Th, sinh năm 1973

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T.

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lƣu Văn B, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T.

(Tại phiên tòa vắng mặt bà Th1, bà Th, ông B )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện nguyên đơn trình bày: Theo giấy đề nghị vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ của bà Đỗ Thị Th, ngày 08/6/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, chi nhánh Thái Bình, Phòng giao dịch Đông Hưng đã duyệt cho bà Đỗ Thị Th vay số tiền 20.000.000đồng, lãi suất 9%/năm, thời hạn vay 12 tháng, chia làm 12 kỳ, mỗi kỳ là 1 tháng kể từ ngày 08/6/2016 đến ngày 8/6/2017, mục đích vay chăn nuôi thêm, hình thức thanh toán: trả cả gốc và lãi hàng tháng theo quy định của Ngân hàng Đ(theo bảng dự tính thu RULE 78); hình thức bảo đảm khoản vay: tín chấp thông qua xác nhận của Chủ tịch Hội phụ nữ và Chủ tịch UBND xã Đ. Ngày 08/6/2016 Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đã thực hiện cho bà Th nhận nợ theo hình thức báo có vào tài khoản số 0110207172 của bà Đỗ Thị Th mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền 20.000.000đồng. Quá trình vay, từ ngày 08/6/2016 đến ngày 17/5/2017, bà Đỗ Thị Th đã trả được tổng số tiền gồm: gốc: 14.718.462 đồng; lãi trong hạn: 1.661.538 đồng. Do bà Đỗ Thị Th vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên từ ngày 18/5/2017, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 14/3/2019 bà Th còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền gốc là: 5.281.538 đồng; lãi trong hạn: 138.462 đồng; lãi quá hạn: 1.300.995 đồng. Tổng cộng 6.720.995 đồng.

Do sơ xuất nên Ngân hàng đã không kiểm tra kỹ hồ sơ, không kiểm tra giấy tờ tùy thân của người bảo lãnh và cũng không trực tiếp nhìn người bảo lãnh ký vào hồ sơ. Nay ngân hàng không yêu cầu người bảo lãnh là ông Lưu Văn B phải trả nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng thương mại cổ phần Đ đề nghị Tòa án buộc bà Đỗ Thị Th phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 14/3/2019 là 6.720.995 đồng, lãi phát sinh từ ngày 15/3/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm (10/10/2019) là 408.270 đồng.

Bà Đỗ Thị Th là bị đơn, ông Lưu Văn B là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập. Ủy ban nhân dân xã Đ đã cử cán bộ của địa phương đi cùng Thẩm phán và thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng đến nhà bà Đỗ Thị Th, ông Lưu Văn B để ghi lời khai của bà Th, ông B và tống đạt các văn bản của Tòa án nhưng bà Th, ông B không có ở nhà. Bà Đỗ Thị Th và ông Lưu Văn B là vợ chồng, cán bộ Tòa án và cán bộ địa phương đã đến nhà bà Th, ông B nhiều lần nhưng không có ai ở nhà, vì vậy Tòa án không ghi được lời khai của bà Th, ông B.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng với quy định của pháp luật còn đối với bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành chưa đầy đủ quy định của pháp luật.

Về nội dung: Có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, sau khi đương sự trình bày ý kiến, Tòa án xét thấy:

Về tố tụng: Bà Đỗ Thị Th và ông Lưu Văn B đều đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh T, căn cứ vào Điều 26; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, Bà Đỗ Thị Th và ông Lưu Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, bà Th, ông B.

[2] Về nội dung:

Quá trình giải quyết vụ án bà Th không đến Tòa án trình bày, Tòa án đến nhà bà Th nhiều lần nhưng không gặp bà Th nên Tòa án không ghi được lời khai của bà Th. Tại biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Đ thì bà Đỗ Thị Th, sinh năm 1973; có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T. Bà Đỗ Thị Th có ký vào phần người vay trong giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ để vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ. Như vậy xác nhận có việc bà Th vay của Ngân hàng TMCP Đ số tiền 20.000.000đồng. Về lãi suất cho vay là 9%/năm, lãi quá hạn là 1,5 lần mức lãi trong hạn tức là 13,5% phù hợp với quy định của pháp luật.

Về chữ ký B - Lưu Văn B trong mục người bảo lãnh trong Giấy đề nghị vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 11/5/2016. Ủy ban nhân dân xã Đ cũng xác định khi chủ tịch Hội phụ nữ xã và Ủy ban nhân dân xã xác nhận chỉ có chữ ký của người vay tiền tại phần người vay không có chữ ký của người bảo lãnh tại phần người bảo lãnh, đại diện Ngân hàng cũng không đề nghị giám định chữ ký, Ngân hàng Đ đề nghị Tòa án chỉ buộc người vay có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng không yêu cầu người bảo lãnh phải trả nợ cho Ngân hàng.

Theo quy định tại Phần IV “Phần cam kết của người bảo lãnh” trong Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 11/5/2016 thì trong trường hợp bà Đỗ Thị Th không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ hàng kỳ cho Đ Bank, ông B sẽ trả nợ thay cho người vay cho đến khi hết nợ vay tại Đ Bank. Tuy nhiên do hồ sơ tín dụng lập chưa được chặt chẽ và Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không yêu cầu người bảo lãnh phải trả nợ tiền cho Ngân hàng, vì vậy chỉ buộc bà Th có trách nhiệm trả nợ cho Đ Bank không buộc ông B phải trả cho Đ Banhk.

Về án phí: Bà Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí.

Về quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, bà Th, ông B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 122; Điều 124; Điều 471; Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26; Điều 35; Điều 39; điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 235; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng Các Điều 7, 8 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ yêu cầu bà Đỗ Thị Th trả nợ.

Buộc bà Đỗ Thị Th, sinh năm 1973; có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (trả tại chi nhánh huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình) số tiền 7.129.265 đồng trong đó tiền gốc là: 5.281.538 đồng; tiền lãi tính đến hết ngày 10/10/2019 là 1.847.727 đồng gồm lãi trong hạn: 138.462 đồng; lãi quá hạn 1.709.265 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

3. Về án phí: Bà Đỗ Thị Th phải chịu 356.000 đồng ( làm tròn số) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng thương mại cổ phần Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ 300.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0008005 ngày 16/5/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt bà Th1, bà Th, ông B báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ