vanban.org

Bản án 04/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh T đối với chị Q.

Tuyên bố chị Q, sinh năm 1984; nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông mất tích. Về lệ phí: Anh T phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí mà anh T đã nộp theo biên lai thu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "anh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh T đối với chị Q.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2018/QĐDS-ST
Ngày: 18- 04- 2018
V/v:“Tuyên bố một người mất tích”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Đoàn Công Tài - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Đoàn Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Thành Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 04 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 115/2017/TLST-VDS ngày 24 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu: “Tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp số: 03/2018/QĐPH-ST ngày 09 tháng 4 năm 2018.

Người yêu cầu: Anh T, sinh năm 1987 – có mặt.

Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

Người bị yêu cầu: Chị Q, sinh năm 1984.

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu và trong quá trình giải quyết vụ án vụ việc anh Ttrình bày: Anh T và chị Q kết hôn với nhau là tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông ngày 21/02/2012. Trong thời gian chung sống vợ chồng anh thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã nên chị Q đã bỏ nhà đi biệt tích từ tháng 8 năm 2012 đến nay không rõ tin tức. anh T đã tìm kiếm nhiều nơi và anh T đã yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiến người vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng đối với chị Q nhưng vẫn không có tin tức gì. Nay anh T thấy tình cảm giữa anh với chị Q không còn và cần sự có mặt của chị Q để giải quyết việc ly hôn nên anh T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân

- 1 -

huyện Đắk R’Lấp tuyên bố một người mất tích đối với chị Q, sinh năm 1984; nơi cư trú cuối cùng thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông theo quy định của pháp luật.

Đối với người bị yêu cầu là chị Q sau khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự đã ban hành quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số: 08/2017/QĐ-TA ngày 14/11/2017 và anh T đã thông báo trên đài và báo trung ương 3 lần liên tiếp, hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên nhưng chị Q vẫn không có mặt tại địa phương để Tòa án giải quyết việc.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp tại phiên họp đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh T đối với chị Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự và được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn yêu cầu anh T yêu cầu tuyên bố một người mất tích đối với chị Q, sinh năm 1984; có nơi cư trú cuối cùng tại thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

Về thời hiệu yêu cầu: Từ tháng 8 năm 2012 chị Q đã đi biệt tích khỏi địa phương nay không có tin tức và địa chỉ ở đâu và được chính quyền địa phương xác nhận, anh T đã nhắn tin trên đài và báo trung ương đối với chị Q nhưng chị Q vẫn không về địa phương. Nay anh T có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với chị Q là phù hợp theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ việc: Theo tài liệu, chứng cứ của anh T cung cấp thì chị Q đi khỏi địa phương từ tháng 08 năm 2012 và được chính quyền địa phương xác nhận là chị Q đã bỏ đi khỏi địa phương biệt tích từ tháng 08 năm 2012 đến nay không rõ tin tức ở đâu. Đến tháng 12 năm 2016 anh T đã làm đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm chị Q trên thông tin đại chúng nhưng không có tin tức gì. Ngày 16 tháng 10 năm 2017 anh T làm đơn yêu cầu Tòa án “Tuyên bố một người mất tích” đối với chị Q, mục đích để xin ly hôn. Sau khi thụ lý Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Q. Tuy nhiên hết thời hạn 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức gì đối với chị Q.

Từ những nhận định trên Tòa án xét thấy yêu cầu của anh T về việc yêu cầu “Tuyên bố một người mất tích” đối với chị Q, sinh năm 1984, nơi cư trú cuối cùng tại thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông là có căn cứ và phù hợp theo quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Tại phiên hợp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp đề nghị là có căn cứ cần chấp nhận.

- 2 -

Về lệ phí và các chi phí yêu cầu thông báo anh T phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 387, Điều 388 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 68 của Bộ luật dân sự.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích của anh T đối với chị Q.

Tuyên bố chị Q, sinh năm 1984; nơi cư trú cuối cùng: Thôn A, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông mất tích.

2. Về lệ phí: Anh T phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí việc dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí mà anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001363 ngày 24 tháng 10 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

3. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ