- Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú của Trần Thị Hạnh Nghĩa với Triệu Văn Cu"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị Hạnh N thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 232 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Quyết định số: 04/2018/QĐ-VDS V/v yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú | Long Xuyên, ngày 08 tháng 6 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Trịnh Ngọc Thúy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc - Kiểm sát viên.
Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Xuân Bích – Thư ký Tòa án
Ngày 08 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 04/2018/TLST.VDS, ngày 19 tháng 4 năm 2018, về việc: “Thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú” theo quyết định mở phiên họp số 04/2018/QĐ-MPH ngày 21/5/2018, giữa:
1. Người yêu cầu: Bà Trần Thị Hạnh N, sinh năm 1982
Địa chỉ: phường P, thành phố X, tỉnh G (Có mặt)
2. Người bị yêu cầu: Ông Triệu Văn C, sinh năm 1982
Nơi cư trú cuối cùng: phường P, thành phố X, tỉnh G (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn yêu cầu ngày 04/3/2018 và đơn xác định yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 18 tháng 4 năm 2018 và tại phiên họp ngày hôm nay bà Trần Thị Hạnh N xác định: Giữa bà và ông Triệu Văn C do tự tìm hiểu mới tiến đến hôn nhân vào năm 2000 và cả hai có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P ngày 21/8/2002. Đây là hôn nhân lần thứ nhất của ông bà.
Sau khi kết hôn cả hai sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung. Ông Triệu Văn C không quan tâm gia đình, con cái mà thường xuyên nhậu nhẹt rồi về lớn tiếng, gây cãi với bà. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đến năm 2005 thì ông C đòi ly hôn nhưng lại không cùng bà ra Tòa án giải quyết mà bỏ địa phương đi, không liên lạc với gia đình.
Thời gian chung sống với nhau cả hai có một con chung tên Triệu Trần Kiều N, sinh ngày 09/10/2001. Từ khi ông C bỏ nhà đi đến nay, con chung sống cùng bà và gia đình cha mẹ bà. Kể từ ngày 10/5/2005 thì ông Triệu Văn C bỏ địa phương đi không liên lạc về gia đình, nhiều lần bà đi tìm đều không có tin tức.
Nay, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết đăng báo đài thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông C để bổ sung hồ sơ khởi kiện xin ly hôn.
Chi phí đăng báo, đài thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông C thì bà N sẽ chịu.
Tại phiên họp, bà N giữ yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông C. Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đề nghị căn cứ Điều 64 của Bộ luật dân sự, Điều 369, Điều 370, Điều 384 Bộ luật tố tụng Dân sự để chấp nhận yêu cầu của bà N về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Triệu Văn C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và căn cứ vào ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên về hướng giải quyết việc dân sự, Tòa án nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Bà Trần Thị Hạnh N có đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông Triệu Văn C, yêu cầu của bà N là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên được quy định tại khoản 2 điều 27, điểm a khoản 2 điều 35 và điểm b khoản 2 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nhận thấy, theo trình bày của bà N thì giữa bà và ông Triệu Văn C do quen biết tự tìm hiểu và ông bà tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, đây là hôn nhân lần thứ nhất của cả hai và ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P ngày 21/8/2002. Sau khi kết hôn, cả hai sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân theo bà N trình bày do ông C không quan tâm gia đình, con cái mà thường xuyên nhậu nhẹt rồi về lớn tiếng, gây cãi với bà. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đến năm 2005 thì ông C đòi ly hôn nhưng lại không cùng bà ra Tòa án giải quyết mà bỏ địa phương đi, không liên lạc với gia đình. Kể từ ngày 10/5/2005 thì ông Triệu Văn C bỏ địa phương đi không liên lạc về gia đình, nhiều lần bà đi tìm đều không có tin tức cho đến nay ông C bỏ đi đâu và làm gì thì bà N không biết và không thể liên lạc được với ông C. Nay, bà N yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông C để bà N bổ sung hồ sơ khởi kiện xin ly hôn.
Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 23/4/2018 của Công an phường P, thành phố X, tỉnh G với nội dung: “ Đương sự Triệu Văn C, sinh năm 1982, đương sự có sinh sống tại .. phường P, thành phố X, tỉnh G (từ năm 2003 đến năm 2005) tại thời điểm đó, đương sự không có đăng ký thường trú và tạm trú tại địa phương. Qua quá trình xác minh thì đương sự Triệu Văn C đã bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2005 đến nay làm gì và ở đâu thì không rõ”.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tại phiên họp: Chấp nhận yêu cầu của của bà N về việc thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Triệu Văn C.
Do đó, căn cứ vào Điều 64 Bộ luật Dân sự năm 2015, xét việc bà N yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Triệu Văn C là có cơ sở nên được Tòa án chấp nhận.
- Về lệ phí sơ thẩm: Bà Trần Thị Hạnh N phải chịu lệ phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 149 của Bộ luật tố tụng Dân sự và khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 2 điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 điều 39, Điều 146, Điều 149, Điều 232, điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 383, Điều 384, Điều 385 và Điều 386 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 64 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trần Thị Hạnh N thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú
Tuyên bố: Ông Triệu Văn C, sinh năm 1982 vắng mặt tại nơi cư trú cuối cùng tại phường P, thành phố X, tỉnh G.
2. Về lệ phí: Bà Trần Thị Hạnh N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu số 0008147 ngày 18/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên. Bà N đã nộp đủ lệ phí sơ thẩm.
Bà Trần Thị Hạnh N được quyền kháng cáo trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày ra quyết định. Ông Triệu Văn C được quyền kháng cáo trong hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết hợp lệ tại địa phương nơi cư ngụ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết theo thủ tục phúc thẩm./.
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp
| Nơi nhận: - VKSND.TPLX; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ./. | Trịnh Ngọc Thúy |