vanban.org

Bản án 04/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 18/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H, tên gọi khác: Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 điều 202 BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7; các điểm b, c khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ Luật hình sư năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về áp dụng các quy định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang Hương - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H, tên gọi khác: Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LINH
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 04/2018/HSST
Ngày 18/5/2018

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đức Minh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Hải.

Ông Nguyễn Văn Sơn.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Tạ Thanh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hương - KSV.

Ngày 18 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2018/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang H, tên gọi khác: Th; sinh ngày 19 tháng 12 năm 1982.

Nơi cư trú: Khóm V T, thị trấn H X, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang Đ và bà Trần Thị Y; có vợ là chị Hồ Thị H (Đã ly hôn năm 2017); có 01 con; tiền sự: không; tiền án: không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại:

Anh Trương Vĩnh Th; sinh năm: 1989.

Trú tại: Khu phố 2, Phường 5, thành phố Đ H, Quảng Trị. có mặt

Anh Nguyễn Hữu T (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại ( Nguyễn Hữu T):

Ông Nguyễn Hữu T, sinh: 1964 (là bố đẻ của người bị hại).

Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1963 (là mẹ đẻ của người bị hại), có mặt.

Đều trú tại: Thôn D L, xã Th V, thị xã H Th, Thừa Thiên Huế

Do ông Nguyễn Hữu T đại diện theo giấy ủy quyền ngày 28 tháng 12 năm 2017, vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Hồ Thị C, sinh năm: 1965

Trú tại: số 122/7, đường T Th Th, khu phố 2, Phường 5, thành phố Đ H, Quảng Trị, vắng mặt.

Ông Nguyễn Quang Đ, sinh năm: 1953

Trú tại: Khóm Vĩnh Tiến, thị trấn H X, V L, Quảng Trị, có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Lê Đăng L, sinh năm: 1975.

Trú tại: Khóm V T, thị trấn H X, V L, Quảng Trị, có mặt.

Anh Nguyễn Xuân M, sinh năm: 1991

Trú tại: Khu phố 3, phường Đ Lễ, TP Đ H, Quảng Trị, vắng mặt

Anh Nguyễn Trung H, tên gọi khác: Cu Bi, sinh năm: 1993

Trú tại: Thôn D L, Th V, thị xã H Th, Thừa Thiên Huế, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không chấp hành các quy định về an tòan giao thông đường bộ nên vào khoảng 21 giờ ngày 21/10/2017 tại km 730 – QL1A (Tuyến tránh cầu Hiền Lương) thuộc khóm V T, thị trấn H X, huyện Vĩnh Linh, Nguyễn Quang H (Th) sinh năm 1982, ở khóm V T, H X, có giấy phép lái xe hạng A1 sau khi uống rượu đã điều khiển mô tô 74L1 – 04227 của ông Nguyễn Quang Đ, theo hướng Đ H – Hồ Xá. Khi đến km trên đã chạy sang phần đường ngược chiều va chạm với xe mô tô 75G1 – 00956 do anh Nguyễn Hữu T điều khiển phía sau chở anh Trương Vĩnh Th chạy ngược chiều. Hậu quả anh T chết tại chỗ, anh Th bị thương nặng, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Biết mình gây tai nạn H nhanh chóng điều khiển mô tô về nhà để trốn tránh trách nhiệm.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông (theo hướng Đồng Hới – Đông Hà) lập ngày 21 tháng 10 năm 2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V L xác định: Xe mô tô biển kiểm soát 74L1 – 042.27 sau khi gây tai nạn ngã sang phải trên mặt đường nhựa, đầu xe quay về hướng Tây Bắc, đuôi xe quay về hướng Đông Nam, cách tâm bánh sau 2m về hướng Đông Hà là điểm đầu vết cày trượt đứt quảng trên mặt đường nhựa. Nạn nhân nằm ngửa, đầu quay về hướng Đồng Hới, chân quay về Đông Hà. Đỉnh đầu cách tim đường 5,8m, cách gót chân phải 15,10m về hướng Đông Hà và hơi chếch qua trái là tâm bánh sau xe mô tô 75G1 – 009.56. Đầu xe mô tô 75G1 – 009.56 quay về hướng tây, đuôi xe quay về hướng đông. Tâm bánh trước, bánh sau cách tim đường bên phải 4,3m và 03m.

Khám nghiệm xe mô tô 74L1 – 042.27, dấu vết có liên quan để lại trên phương tiện: Chân gương chiếu hậu bên phải lệch khỏi vị trí ban đầu, bộ phận trên gương chiếu hậu bên trái bung rời khỏi xe. Mút tay phanh trước bị mài trượt kim loại chiều hướng trước ra sau. Mút tay cầm lái bên phải có vết mài trượt chiều hướng trước ra sau. Ốp nhựa bảo vệ cụm đèn chiếu sáng và đèn xi nhan bị gãy chốt định vị bung khỏi vị trí ban đầu. Mút gác để chân phải trước có vết mài trượt kim loại và cao su chiều hướng trước ra sau.

Khám nghiệm xe mô tô 75G1 – 009.56 phát hiện các dấu vết liên quan vụ tai nạn giao thông: Ốp nhựa bảo vệ cụm đèn chiếu sáng phía trước bị gãy vỡ bung rời khỏi vị trí ban đầu chiều hướng trước ra sau, trái qua phải. Cụm đèn chiếu sáng phía trước vỡ rời khỏi xe. Gác chân trước bên trái và cánh đạp số bị đẩy cong lệch từ trước ra sau. Chân chống bị đẩy lệch từ trước ra sau.

Tại bản kết luận giám định số: 11/KLGĐ-PC54, ngày 19/11/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q T, kết luận: “Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS 74L1 – 042.27 và xe mô tô BKS 75G1 – 009.56 trên hiện trường là tại mô tả và ghi nhận trong sơ đồ khám nghiệm hiện trường), thuộc phần đường và xe cơ giới có hướng đi từ thành phố Đồng Hới đến thành phố Đông Hà”.

Tại bản Kết luận giám định số: 524/KLGĐ-PC54, ngày 27/10/2017 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q T, kết luận: Anh Nguyễn Hữu T, ở thôn D L, Th V, thị xã H Th, Thừa Thiên – Huế chết tại chỗ, “Nguyên nhân cái chết của anh Nguyễn Hữu T: Chấn thương ngực (Gãy nhiều xương sườn; Tràn máu trong màng phổi; Trên thân thể có nhiều vết bầm tím, xây xát da)”

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 230/TgT, ngày 14/12/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Q T, kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trương Vĩnh Th, sinh năm 1989, trú tại: Khu phố 2, phường 5, TP. Đ H, Quảng Trị, do thương tích gây nên hiện tại là 61%”.

- Phiếu đo nồng độ cồn và Biên bản về việc đo nồng độ cồn trong hơi thở đối với Nguyễn Quang H của Đội cảnh sát giao thông Công an huyện V L, lập lúc 22 giờ 05 ngày 21/10/2017 xác định nồng độ cồn của Nguyễn Quang H: 0,831 mg/L khí thở

Kết quả định giá giá trị thiệt hại:

Bản kết luận của Hội đồng định giá tài sản số: 821/KL-HDĐG, ngày 21/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V L kết luận: “Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại: 3.077.600đ (Ba triệu, không trăm bảy mươi bảy ngàn, sáu trăm đồng). Trong đó: Giá trị thiệt hại xe mô tô biển kiểm soát 74L1 – 042.27 là 674.800đ (Sáu trăm, bảy mươi tư ngàn, tám trăm đồng); Giá trị thiệt hại xe mô tô biển kiểm soát 75G1 - 009.56 là 2.402.800đ (Hai triệu, bốn trăm lẻ hai ngàn, tám trăm đồng)”.

Với nội dung vụ việc như trên, tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS-HS ngày 07/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V L đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang H (tên gọi khác: Th) về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo các điểm b, c khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang H (tên gọi khác: Th) khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V L đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H (tên gọi khác: Th) phạm tội “ Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng các điểm b, c khoản 2 điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt: bị cáo Nguyễn Quang H (tên gọi khác: Th) từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Quang H (tên gọi khác: Th) và anh Anh Trương Vĩnh Th về bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền là 88.662.354đ (Tám mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi hai ngàn, ba trăm năm mươi tư đồng). Nguyễn Quang H (Th) đã bồi thường số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng), số tiền còn lai 28.662.354đ (hai mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi hai ngàn, ba trăm năm mươi tư đồng) bị cáo tiếp tục bồi thường cho anh Trương Vĩnh Th.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án trả lại cho ông Nguyễn Quang Đ 01 xe mô tô (Một biển kiểm soát 74L1 - 042.27 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Quang H. Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) Mảnh nhựa.

Trả cho Nguyễn Quang H (Th) 01 Giấy phép lái xe hạng A1, mang tên Nguyễn Quang Th (Hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án)

Bị cáo Nguyễn Quang H (Th) không tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh.

Tại phiên tòa người bị hại anh Trương Vĩnh Th và Đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại của anh Nguyễn Hữu T, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H để bị cáo sớm về lao động sản xuất chăm lo cho bố mẹ.

Bị cáo Nguyễn Quang H (Th) nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo để bị cáo sớm trở về lao động sản xuất và nuôi dạy con cái chăm sóc bố mẹ già, đồng thời tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho anh Th.

.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp. Bị cáo không có khiếu nại hay có ý kiến gì.

Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Quang H (Th) đã khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận việc Ngày 21/10/2017 tại Km 730 – QL1A (Tuyến tránh cầu Hiền Lương) thuộc khóm Vĩnh Tiến – thị trấn Hồ Xá – huyện Vĩnh Linh, Nguyễn Quang H (Th) có giấy phép lái xe hạng A1 sau khi uống rượu với nồng độ cồn trong máu 0,831 mg/L khí thở đã điều khiển mô tô 74L1 – 04227 của ông Nguyễn Quang Đ, đi theo hướng Đông Hà – Hồ Xá. Khi đến Km 730 – QL1A trên đã chạy sang phần đường ngược chiều va chạm với xe mô tô 75G1 – 00956 do anh Nguyễn Hữu T điều khiển phía sau chở anh Trương Vĩnh Th chạy ngược chiều. Hậu quả anh T chết tại chỗ, anh Th bị thương nặng với thương tích 61%, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Biết mình gây tai nạn Hương nhanh chóng điều khiển mô tô về nhà để trốn tránh trách nhiệm.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm khoản 8, khoản 17 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và gây hậu quả làm chết 01 người và bị thương 01 người với tỷ lệ thương tích 61% nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự.

Hậu quả làm 01 người chết và 01 người bị thương với tỷ lệ thương tích 61% theo bộ Luật hình sự năm 1999 đây là tình tiết định khung “gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 202 BLHS năm 1999 nhưng nay Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” không quy định tình tiết định khung này nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 2015 xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Quang H (Th) đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng gây hậu quả làm chết một người và gây thương tích cho một người nên cần phải xử ly nghiêm minh trước pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thần khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Người bị hại và Đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại (đã chết) có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này được quy định tại các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sữa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Căn cứ vào tình chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Hữu T, là người đại diện hợp pháp của nạn nhân Nguyễn Hữu T, yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho gia đình ông các khoản tiền: Chi phí mai táng nạn nhân và tiền tổn thất tinh thần, thiệt hại về tài sản với tổng số tiền là 81.504.800đ (Tám mươi mốt triệu, năm trăm lẻ bốn ngàn, tám trăm đồng). Nguyễn Quang H đã bồi thường đủ và tại phiên tòa các bên không có ý kiến gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Trương Vĩnh Th bị thương phải đi cấp cứu từ ngày 21/10/2017 đến 30/10/2017 yêu cầu Nguyễn Quang H (Th) phải bồi thường chi phí điều trị vết thương, tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 88.662.354đ (Tám mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi hai ngàn, ba trăm năm mươi tư đồng). Nguyễn Quang H (Th) đã bồi thường số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng), còn 28.662.354đ (hai mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi hai ngàn, ba trăm năm mươi tư đồng). Tại phiên tòa các bên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ bản thỏa thuận bồi thường dân sự và ghi nhận sự thỏa thuận trong bản án sơ thẩm, để có cơ sở tiếp tục thi hành. Xét thấy nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội cần được chấp thuận.

Ông Nguyễn Quang Đ bị thiệt hại về xe mô tô với số tiền: 674.800đ (Sáu trăm, bảy mươi tư ngàn, tám trăm đồng) ông Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra tạm giữ: 01 (Một) Xe mô tô biển kiểm soát 75G1 – 009.56, xe có các đặc điểm hư hỏng như mô tả trong Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ TNGT lập ngày 22/10/2017; 01 (Một) Quần dài loại quần nam, đã qua sử dụng; 01 (Một) Thắt lưng loại nam màu nâu, đầu thắt lưng làm bằng kim loại màu trắng có chữ B; 01 (Một) Áo dài tay loại áo nam, vải rin màu xanh, đã qua sử dụng. Vào ngày 16/01/2018 cơ quan CSĐT –Công an huyện Vĩnh Linh đã trao trả 4 loại tài sản trên cho ông Nguyễn Hữu T, ông đã nhận đủ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 xe mô tô (Một biển kiểm soát 74L1 - 042.27 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Quang H là tài sản Anh Nguyễn Quang H đã giao cho ông Nguyễn Quang Đ quản lý sử dụng, tài sản này thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Quang Đ nên Hội đồng xét xử thấy cần trả lại cho chủ sở hữu.

Trả lại cho Nguyễn Quang H (Th) 01 Giấy phép lái xe hạng A1, mang tên Nguyễn Quang Th (Hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án)

Đối với 03 (ba) Mảnh nhựa không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy..

Các vật chứng nói trên hiện đang giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Linh có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 13/3/2018.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang H (Th) phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẻ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H, tên gọi khác: Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

2. Hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 điều 202 BLHS năm 1999; khoản 3 Điều 7; các điểm b, c khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ Luật hình sư năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Quang H (tên gọi khác: Th) 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 586, 591, 601 Bộ luật dân sự 2015.

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Quang H (tên gọi khác: Th) và anh Trương Vĩnh Th về bồi thường thiệt hại về sức khỏe với số tiền là 88.662.354đ (Tám mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi hai ngàn, ba trăm năm mươi tư đồng). Nguyễn Quang H (Th) đã bồi thường số tiền 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng), số tiền còn lai 28.662.354 đồng (Hai mươi tám triệu, sáu trăm sáu mươi hai ngàn, ba trăm năm mươi tư đồng) bị cáo tiếp tục bồi thường cho anh Trương Vĩnh Thành.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc cơ quan điều tra trả lại 01 (Một) Xe mô tô biển kiểm soát 75G1 – 009.56, 01 (Một) Quần dài loại quần nam, đã qua sử dụng, 01 (Một) Thắt lưng loại nam màu nâu, đầu thắt lưng làm bằng kim loại màu trắng có chữ B, 01 (Một) Áo dài tay loại áo nam, vải rin màu xanh, đã qua sử dụng cho Đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại ông Nguyễn Hữu T.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Trả lại cho Nguyễn Quang H (Th) 01 Giấy phép lái xe hạng A1, mang tên Nguyễn Quang Th (Hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án).

Trả lại cho ông Nguyễn Quang Đ 01 xe mô tô kiểm soát 74L1 - 042.27 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Quang H (Giấy chứng nhận xe mô tô BKS 74L1 - 042.27 hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án).

Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) Mảnh nhựa.

Các vật chứng nói trên hiện đang giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Linh có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 13/3/2018.

5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang H (Th) phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của của người bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đựợc bản sao án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ