- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Tuấn A giao cấu với trẻ em - phạm tội giao cấu với trẻ em (điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Tuấn A và người đại diện hợp pháp của người bị hại ông Đặng Hà Thanh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm:
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 115 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2018/HS-PT Ngày 15/01/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Tuyết
Các Thẩm phán: Bà Hồ Thị Hồng và bà Trần Thị Thiên H
- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái - Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 97/2017/TLPT-HS ngày 02/11/2017, đối với bị cáo Trịnh Tuấn A do có kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 71/2017/HS-ST ngày 19/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Bị cáo có kháng cáo: TRỊNH TUẤN A - sinh ngày 19/4/1999 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn) 6/10; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Trịnh Văn H và bà Nguyễn Thị K; tiền án, tiền sự không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Đặng Hà Thanh H - sinh năm 1976, nơi cư trú thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Thuận; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong tháng 5/2017, giữa Trịnh Tuấn A và Đặng Huỳnh Thanh H đã quen biết nhau qua mạng Facebook và trực tiếp gặp nhau vài lần, đã phát sinh tình cảm yêu đương với nhau và Tuấn A đã biết H khoảng 15 tuổi.
Khoảng 14 giờ ngày 20 tháng 6 năm 2017, Tuấn A chạy xe môtô từ nhà ở thôn A, xã B, huyện C đến thị trấn Liên H để gặp H, rồi Tuấn A rủ H về nhà Tuấn A chơi, H đồng ý lên xe môtô cho Tuấn A chở đi. Khi đến nhà, trong gia đình Tuấn A không có ai ở nhà. Tuấn A và H ngồi nói chuyện chung 01 võng trong nhà. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Tuấn A rủ H đi vào phòng ngủ của Tuấn A để nói chuyện, H đồng ý. Tuấn A và H vào phòng ngủ, đóng cửa phòng lại, rồi cùng nằm chung một giường nói chuyện. Lúc này, Tuấn A và H tự nguyện ôm hôn nhau, Tuấn A dùng tay sờ mó bộ phận sinh dục của H vài phút, Tuấn A cởi quần của H và tự cởi quần của mình ra, H nằm ngữa để hai chân lên hai bên đùi của Tuấn A, Tuấn A ngồi quỳ đưa dương vật vào bên trong âm đạo, âm hộ của H và nằm đè lên H quan hệ sinh lý, được khoảng 05 phút thì Tuấn A đưa dương vật ra để xuất tinh trùng ra ngoài, H bị chảy máu âm đạo, rồi H và Tuấn A tự mặc quần vào, ra ngoài ngồi chơi.
H ở lại nhà Tuấn A cho đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Tuấn A và H tự nguyện vào phòng ngủ chung, Tuấn A tiếp tục ôm hôn, sờ mó bộ phận sinh dục của H, Tuấn A cởi quần áo của H và cởi quần áo của mình ra, đưa dương vật vào trong âm đạo, âm hộ quan hệ sinh lý với H, khoảng 05 phút thì xuất tinh trùng ra ngoài, rồi cùng nằm ngủ chung.
Đến sáng ngày 21 tháng 6 năm 2017, Tuấn A đi làm, chỉ còn một mình H ở nhà Tuấn A. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Đặng Hà Thanh H là cha của H tìm gặp và chở H về nhà, rồi nghi ngờ H bị xâm hại tình dục, nên đưa H đến Bệnh viện huyện Tuy Phong khám thì bị phát hiện rách màng trinh, H tường thuật lại sự việc quan hệ sinh lý với Tuấn A.
Ngày 21 tháng 6 năm 2017, ông Đặng Hà Thanh H làm đơn tố cáo Trịnh Tuấn A về hành vi giao cấu với Đặng Huỳnh Thanh H.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục ngày 05/7/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận: Màng trinh của Đặng Huỳnh Thanh H dạng vành khăn, giãn rộng, có vết rách chưa tới chân màng trinh ở vị trí 9 giờ và 11 giờ, các vết rách đã cũ. Toàn thân không có dấu vết tổn thương cơ học.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 71/2017/HSST ngày 19/9/2017, Tòa án nhân dân huyện C đã xử như sau:
Tuyên bố Bị cáo Trịnh Tuấn A phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 115; điểm p khoản 01 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Trịnh Tuấn A 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra Tòa án sơ thẩm còn tuyên bị cáo phải chịu tiền án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 02/10/2017, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.
Ngày 25/9/2017, người đại diện hợp pháp của người bị hại ông Đặng Hà Thanh H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xử tăng hình phạt đối với bị cáo Trịnh Tuấn A.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xử y án sơ thẩm đã tuyên.
- Ý kiến của bị cáo: Xin hưởng án treo.
- Ý kiến của ông H yêu cầu Tòa xử tăng hình phạt đối với bị cáo Trịnh Tuấn A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trịnh Tuấn A thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Giao cấu với trẻ em là đúng không oan”, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo; người đại diện hợp pháp của người bị hại giữ nguyên kháng cáo yêu cầu xử tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo.
Xét kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại, Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào ngày 20/6/2017, tại nhà của bị cáo Trịnh Tuấn A ở thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Thuận, bị cáo đã có hành vi giao cấu với cháu Đặng Huỳnh Thanh H - sinh ngày 06/12/2003 hai lần. Khi thực hiện hành vi giao cấu, cháu H mới 13 tuổi 06 tháng 14 ngày. Với hành vi đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội: “Giao cấu với trẻ em” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét thấy, bị cáo là một thanh niên đã trưởng thành đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Khi quen biết với cháu Đặng Huỳnh Thanh H bị cáo thừa biết cháu H là một cháu bé tuổi còn nhỏ (Dưới 16 tuổi). Hơn nữa giữa bị cáo với cháu H cũng mới chỉ quen biết với nhau qua mạng Faccbook khoảng hai tuần, nhưng bị cáo đã lợi dụng việc cháu H tuổi còn nhỏ, nhận thức còn hạn chế, bị cáo đã dẫn cháu H về nhà mình rồi thực hiện hành vi giao cấu với cháu H hai lần.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý, sức khỏe của người bị hại, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an xã hội, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm nhằm răn đe giáo dục bị cáo và ngăn ngừa tội phạm tương tự phát sinh.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, đã biết ăn năn hối cải, thật thà khai báo, có đến gia đình bị hại xin lỗi nhiều lần, do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm p khoản 01 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 nay là điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, để xét xử bị cáo là phù hợp. Bị cáo có nhân thân tốt lẽ ra cần áp dụng thêm khoản 02 Điều 46 Bộ luật hình sự nay là khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo, cấp phúc thẩm sẽ áp dụng thêm tình tiết này. Tuy nhiên, mức án 24 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo như vậy là thỏa đáng, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo và người đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo yêu tăng hình phạt tù cho bị cáo nhưng đều không có lý do gì mới, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể thỏa mãn yêu cầu kháng cáo đó, mà nên giữ nguyên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo và ông Đặng Hà Thanh Hphải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Tuấn A và người đại diện hợp pháp của người bị hại ông Đặng Hà Thanh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm:
Tuyên bố Bị cáo Trịnh Tuấn A phạm tội “GIao cấu với trẻ em”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt Trịnh Tuấn A 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Bị cáo và ông Đặng Hà Thanh H mỗi người phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKS, CA, TA, THA huyện; - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Phòng PV27- Công an tỉnh; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM (Đã ký) Trần Thị Ánh Tuyết |