vanban.org

Bản án 04/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Toà án ND Thành phố Hà Nôi;

Viện kiểm sát ND huyện Thanh Oai; UBND xã Cao Viên; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị H xin ly hôn Anh Đào Huy Gi"
  • Tòa quyết gì? Toà án ND Thành phố Hà Nôi;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 04/2018 /HNGĐ-ST
Ngày: 30/01/2018
V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bá Thắng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huy Trọng Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thƣ ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai: Bà Dương Thị Ngọc Loan – Kiểm sát viên. Ngày 30 tháng 01 năm 2018 Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai - TP. Hà Nội; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 231/2017/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QQĐXX –ST ngày 10 tháng 01 năm 2018: Giữa các đương sự: Nguyên đơn: Chị Lê Thị H - sinh năm 1989; tên gọi khác : không có; nghề nghiệp: công nhân may. Nơi đăng ký hộ khẩu TT : Thôn Đ, xã C, huyện Th.O, Thành phố H; Hiện trú tại: Thôn T, xã T, huyện C, Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa. Bị đơn: Anh Đào Huy Gi - sinh năm 1988; tên gọi khác: không có; Nơi đăng ký hộ khẩu TT và trú tại: Thôn Đ – C.V – Th.O -TP. H. Tại phiên tòa vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và tại bản tự khai, nguyên đơn là chị Lê Thị H trình bày trước khi cưới vợ chồng có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Th.O, Thành phố H ngày 18/11/2015. Quá trình chung sống vợ chồng sống không có hạnh phúc thường xuyên xảy ra mâu thuẫn , cứ mỗi lần mâu thuẫn là anh Gi lại đánh chị, nên chị không chịu đựng được đã bỏ về nà mẹ đẻ ở từ tháng 8 năm 2016 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị không thể chung sống được với anh Gi nên đề nghị được ly hôn; Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Đào Ánh D - sinh ngày 02/5/2016 hiện nay chị đang nuôi dưỡng, khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh Gi đóng góp nuôi con chung. Về tài sản chung: Không có Công nợ chung: Không Công sức: Không có. Về tài sản riêng : khi cưới về chị có 4 chỉ vàng loại ( 9999) hiện anh Gi đang giữ, nay chị không yêu cầu anh Gi phải trả lại chị. Về phía bị đơn anh Đào Huy Gi vắng mặt ; Tòa án đã triệu tập anh Gi nhiều lần đến Tòa án để tiến hành lấy lời khai về việc chị H xin ly hôn nhưng anh Gi cố tình không đến. Tòa án tiến hành xuống tận nhà anh để giao thông báo thụ lý và thông báo về việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Gi cố tình trốn tránh. Tại bản lấy lời khai của Bà Vũ Thị Ng và ông Đào Huy N là mẹ bố đẻ của anh Gi cho biết, ông bà có tổ chức cưới cho chị H, anh Gi theo phong tục địa phương, sau ngày cưới hai cháu ở cùng với gia đình và giữa bố, mẹ chồng với nàng dâu thì không có mâu thuẫn gì, còn giữa hai cháu có mâu thuẫn với nhau như thế nào thì bà không biết, nhưng cháu H đã bỏ về nhà ngoại từ năm 2016. Nay cháu H xin ly hôn thì tùy cháu Gi bà không can thiệp, việc cháu Gi có nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhưng do cháu còn bận đi làm, sáng đi tối mới về nên cháu Gi không đến Tòa án, tùy Tòa án quyết định. Về con chung: vợ chồng có một con chung là Đào Ánh D – sinh ngày 02/5/2016 hiện nay đang ở với chị H. Tại phiên tòa chị H vẫn trình bày quan điểm như trên và đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho ly hôn. Anh Gi đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Cần áp dụng điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Th.O có ý kiến: Chấp nhận cho chị H được ly hôn anh Gi. Con chung giao chị H nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Gi một thời gian đến khi có yêu cầu mới. Tài sản chung: Tách không xem xét trong vụ án này. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Th.O, Thành phố H giải quyết việc hôn nhân của chị theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Th.O. Anh Gi đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Cần áp dụng điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với pháp luật [2] Về tình cảm: Chị Lê Thị H và anh Đào Huy Gi tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 18/11/2015 có đăng ký hôn tại UBND xã C . Đây là hôn nhân hợp pháp. Xét về quá trình chung sống vợ chồng được một thời gian ngắn luôn xảy ra mâu thuẫn . Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Gi thường xuyên đánh chị H. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2016 cho đến nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài. Cần xử cho chị H được ly hôn anh Gi. Căn cứ vào Điều 51,56 Luật Hôn nhân và gia đình. [3] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Đào Ánh D – sinh ngày 02/5/2016, hiện chị H đang nuôi dưỡng . Xét cần giao cháu Đào Ánh D cho chị Lê Thị H nuôi dưỡng là phù hợp. Tạm hoãn tiền đóng góp nuôi con chung cho anh Đào Huy Gi một thời gian cho đến khi các đương sự có yêu cầu mới. Anh Đào Huy Gi có quyền đi lại chăm sóc con chung. Không ai được ngăn cản. [4] Về tài sản chung: Do anh Đào Huy Gi vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét trong bản án này. [5] Về công nợ chung: Do anh Đào Huy Gi vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét trong bản án này. [6] Về tài sản riêng: Chị H có 04 chỉ vàng loại (9999) hiện anh Gi đang giữ, nay chị H không yêu cầu anh Gi trả lại. Xét thấy việc tự nguyện này là hợp pháp, cần chấp nhận. [7] Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Toà án: Chị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001251 ngày 20/12/2017 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Th.O. Các đương sự có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều: 51; 53; 54 ;56 ; 58; ; 81; 82 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ các Điều 28, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Toà án Xử: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Đào Huy Gi. Về con chung: Giao cháu Đào Ánh D sinh ngày 02/5/2016 cho chị Lê Thị H nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn tiền đóng góp nuôi con chung cho anh Đào Huy Gi một thời gian cho đến khi các đương sự có yêu cầu mới. Anh Đào Huy Gi có quyền đi lại chăm sóc con chung. Không ai được ngăn cản. Về tài sản chung: Do anh Đào Huy Gi vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét trong bản án này. Về công nợ chung: Do anh Đào Huy Gi vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét trong bản án này. Về tài sản riêng: Chị H có 04 chỉ vàng loại (9999) hiện anh Gi đang giữ, nay chị H không yêu cầu anh Gi trả lại. Xét thấy việc tự nguyện này là hợp pháp, cần chấp nhận. Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002151 ngày 20/12/2017 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Th.O. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Đào Huy Gi vắng mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú, tại trụ sở UBND xã C, huyện Th.O nơi bị đơn cư trú và tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Th.O, thành phố H.

Cỡ chữ