- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Quách Thị S xin ly hôn với anh Bùi Văn B"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Siểu được ly hôn với anh Bùi Văn B .
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH { | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2018/HNGĐ-ST Ngày: 07/02/2018 V/v. Tranh chÊp vÒ H«n nh©n vµ Gia ®×nh |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Bùi Văn Cƣơng
- Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Bùi Văn Thiệu;
2. Ông: Bùi Văn Ơn
- Thư ký ghi biên bản phiên toà bà: Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà bà Bùi Thị Phƣợng- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn.
Ngày 07 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 218/2017/DSST ngày 13 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2018/QĐXX-ST ngày 05/01/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2018/QĐST-HNGĐ ngày 22/01/2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Quách Thị S, sinh năm 1994. Địa chỉ: xóm Nại, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/01/2018.
- Bị đơn: anh Bùi Văn B , sinh năm 1993. Địa chỉ: xóm Nại, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt lần thứ 02 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị Siểu trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn B có tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau năm 2013 tại UBND xã Tân Mỹ trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống yêu thương nhau, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Nhưng từ năm 2017 đến nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh B nghiện ma túy, không chịu khó làm ăn, không chăm lo cho gia đình, tất cả tài sản trong gia đình anh B đã mang bán để mua ma túy sử dụng. Mặc dù đã được họ hàng hai bên động viên từ bỏ ma túy nhưng anh B không hề thay đổi, khiến mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Chị S làm đơn xin ly hôn để giải thoát cho cả hai.
Về con chung: Chị S và anh B có 01 con chung là cháu Bùi Minh Ng , sinh ngày 11/01/2014. Vợ chồng ly hôn Chị S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Minh Ng và chưa yêu cầu anh B thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị S khẳng định chị và anh B không có tài sản chung, không có công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra Chị S không có yêu cầu gì thêm.
Anh Bùi Văn B vắng mặt nên không có quan điểm gì.
* Tại biên bản xác minh ngày ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn chính quyền địa phương nơi cư trú của anh Bùi Văn B và chị Bùi Thị Siểu có nội dung:
Anh Bùi Văn B và chị Quách Thị S kết hôn năm 2013 trên cơ sở tự nguyện tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Mỹ. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chuyển về sống chung với bố mẹ anh B tại xóm Nại, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2017, hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh B nghiện ma túy không chịu làm ăn khiến kinh tế khó khăn và thường xuyên đánh đập Chị S .
Về con chung: anh B và Chị S có 01 con chung là cháu Bùi Minh Ng sinh ngày 11/01/2014, hiện cháu đang ở với ông bà nội. Xét về điều kiện nuôi con của anh B và Chị S thì cả hai anh chị đều có công việc chính là làm ruộng, ngoài ra cả hai người đều đi làm thuê kiếm thêm thu nhập, đều có chỗ ở ổn định vì thế điều kiện nuôi con là ngang nhau. Tuy nhiên, anh B nghiện ma túy, có lối sống bạo lực vì thế sẽ ảnh hưởng đến tâm lý và nhân cách của cháu Ng, do đó cần giao cháu Ng cho Chị S trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
*Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình công nhận việc chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và các đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: xác định mâu thuẫn giữa Chị S và anh B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị S .
- Về con chung: Đề nghị giao cháu Bùi Minh Ng cho Chị S trực tiếp nuôi dưỡng. Chị S chưa yêu cầu anh B thực hiện cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị HĐXX chưa xem xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con trong vụ án.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không tranh chấp nên không đề cập giải quyết trong vụ án.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án Chị S phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa HĐXX nhận ®Þnh:
1. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình “Ly hôn,tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn là anh Bùi Văn B có hộ khẩu thường trú tại xóm Nại, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vì vậy,Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt đầy đủ các văn bản cho các bên đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 175 và khoản 1, 2 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 211 BLTTDS. Tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 BLTTDS để hai bên thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án. Chị S và anh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa, đã được đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; Bị đơn là anh Bùi Văn B đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt Chị S và anh B .
2 Về quan hệ hôn nhân: quan hệ hôn nhân giữa Chị S và anh B được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống Chị S và anh B và không có hạnh phúc; do anh B nghiện ma túy khiến kinh tế khó khăn và thường xuyên đánh đập Chị S . Vì thế cuộc sống gia đình thường xuyên bất hòa.
Từ những nhận định trên mâu thuẫn giữa Chị S và anh B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị S là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về con chung và cấp dƣỡng:
Vợ chồng có một con chung là cháu Bùi Minh Ng , sinh ngày 11/01/2014. Nguyện vọng của Chị S được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và Chị S chưa yêu cầu anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.
Việc mong muốn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con là nguyện vọng chính đáng của các bên đương sự. Xét thấy, Chị S và anh B đều có công việc và thu nhập ổn định và đều được sự giúp đỡ của hai bên gia đình nên có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tuy nhiên, xét điều kiện hiện nay cháu Ng đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Hơn nữa, theo Chị S trình bày và theo kết quả xác minh tại địa phương, anh B là người nghiện ma túy, lại thường xuyên, đánh đập, chửi mắng, xúc phạm Chị S , điều đó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc hình thành nhân cách, hành vi ứng xử cũng như tương lai của con nếu anh B trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của cháu Ng cần chấp nhận yêu cầu của Chị S . Giao con chung cho Chị S trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, do Chị S chưa yêu cầu anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 luật Hôn Nhân và Gia đình.
4. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị S và anh B không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: Chị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81 , 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 147, 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Siểu được ly hôn với anh Bùi Văn B .
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Minh Ng , sinh ngày 11 tháng 01 năm 2014 cho chị Bùi Thị Siểu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành kể từ tháng 02 năm 2018. Anh B chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: chị Bùi Thị Siểu phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004268 ngày 13/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn. Chị Bùi Thị Siểu đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thì hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Siểu và anh Bùi Văn B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - CCTHA huyện Lạc Sơn; - UBND xã Tân Mỹ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Cƣơng |