vanban.org

Bản án 04/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Sông Cầu, tỉnh Phú Yên Tuyên án 25/09/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc vợ chồng bà Lê Thị Kim T và ông Nguyễn Chí D có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Q số tiền là 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng), khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn Q số tiền tạm ứng án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SÔNG CẦU
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2018/DS-ST
Ngày: 25/09/2018
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Thành

2. Ông Lê Văn Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Nhật Chuyên – Thư ký TAND thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 25 tháng 09 năm 2018 tại Trụ sở tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 66/2018/TLST - DS ngày 13 tháng 08 năm 2018 về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐST-DS ngày 22 tháng 08 năm 2018; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967

Địa chỉ: KP.T S Đ, P.X Đ, thị xã S C, tỉnh Phú Yên. Có mặt

- Bị đơn: V/c bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1969 và ông Nguyễn Chí D sinh năm 1967. Địa chỉ: KP.T T, P.X Đ, thị xã S C, tỉnh Phú Yên.

Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/08/2018, biên bản trình bày ý kiến ngày 13/08/2018, biên bản hòa giải ngày 22/08/2018; cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q trình bày:

Năm 2016 ông có cho vợ chồng bà Lê Thị Kim T và ông Nguyễn Chí D vay 800.000.000 đồng, lãi suất 4% tháng cụ thể: Ngày 07/7/2016 vay 300.000.000 đồng, ngày 14/10/2016 vay 200.000.000 đồng, ngày 20/10/2016 vay 100.000.000 đồng, ngày 18/11/2016 vay 50.000.000 đồng tất cả đều có xác lập giấy viết tay. Ngoài ra có thêm một lần vay 100.000.000 đồng và lần 50.000.000 đồng nhưng không xác lập giấy tờ gì. Sau khi vay vợ chồng bà T, ông D trả lãi hàng tháng bình thường cho ông, đến tháng 01 năm 2018 vợ chồng bà T, ông D không trả lãi nữa vì đã vở nợ. Nay vợ chồng bà T và ông D chỉ thừa nhận có vay của ông số tiền có xác lập giấy viết tay, còn 02 lần không có giấy viết tay là 150.000.000 đồng không thừa nhận. Do đó ông xin rút một phần không yêu cầu vợ chồng bà T, ông D trả khoản tiền 150.000.000 đồng này. Còn lại số tiền 650.000.000 đồng ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà T, ông D trả đủ một lần cho ông số tiền 650.000.000 đồng và ông không yêu cầu tính lãi suất từ tháng 01 năm 2018 cho đến khi tòa án xét xử.

Tại bản trình bày ý kiến ngày 22/08/2018, tại phiên hòa giải ngày 22/08/2018 cũng như tại phiên tòa bị đơn vợ chồng bà Lê Thị Kim T và ông Nguyễn Chí D trình bày:

Vợ chồng bà T và ông D thừa nhận có vay của ông Quý tiền 650.000.000 đồng có xác lập giấy viết tay như ông Q đã trình bày, còn số tiền mà ông Q khai 150.000.000 đồng nhưng không có giấy xác lập là vợ chồng bà không có vay, nay ông Q không yêu cầu khoản tiền này nên vợ chồng bà cũng không có ý kiến gì. Riêng về số tiền 650.000.000đ ông Q yêu cầu vợ chồng bà trả đủ một lần vợ chồng bà không có khả năng thanh toán, nên xin ông Q cho 250.000.000 đồng, còn lại 400.000.000 đồng vợ chồng bà trả dần mỗi tháng 100.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Ngày 22/8/2018 Tòa án mở phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng không thành.Ông Q vẫn giữ nguyên yêu cầu vợ chồng bà T, ông D trả đủ số tiền 650.000.000 đồng một lần, vợ chồng bà T , ông D vẫn yêu cầu xin được trả dần.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến của nguyên đơn, bị đơn. Hội đồng xét xử nhận định:

Về Thẩm quyền: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q yêu cầu Toà án giải quyết buộc vợ chồng bà Lê Thị Kim T, ông Nguyễn Chí D, có địa chỉ: KP.Tân Thạnh, P.Xuân Đài, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên phải trả số tiền còn nợ từ hợp đồng vay tài sản. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

Về tố tụng: Bị đơn vợ chồng bà Lê Thị Kim T và ông Nguyễn Chí D có đơn xin xét xử vắng mặt do nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Các bên xác lập giao dịch vào ngày trước ngày 01/01/2017 Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành nên pháp luật về nội dung được áp dụng để giải quyết là Bộ luật dân sự năm 2005.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q căn cứ vào giấy viết tay lập ngày 07/7/2016, ngày 14/10/2016, ngày 20/10/2016, ngày 18/11/2016 được xác lập giữa ông Nguyễn Văn Q và vợ chồng bà Lê Thị KimT, ông Nguyễn Chí D để yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà T, ông D trả cho ông số tiền còn nợ là 650.000.000 đồng, cũng như số nợ này được vợ chồng bà T, ông D thừa nhận là có căn cứ, đúng pháp luật. Nên HĐXX chấp nhận

Xét yêu cầu bị đơn vợ chồng bà T, ông D xin ông Q cho số tiền 250.000.000 đồng (trong số tiền 650.000.000 đồng), còn lại 400.000.000 đồng xin trả dần không được ông Q đồng ý. Nên buộc vợ chồng bà T, ông D phải trả đủ số tiền 650.000.000 đồng một lần cho ông Q là thỏa đáng.

Về lãi suất: Ông Q tự nguyện không yêu cầu vợ chồng bà T, ông D trả lãi từ tháng 01/2018 cho đến khi xét xử, nên HĐXX không xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2, 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm hoàn trả lại án phí cho nguyên đơn.

Vợ chồng bà Lê Thị Kim T và ông Nguyễn Chí D phải chịu số tiền 30.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xét thấy bị đơn vợ chồng bà Lê Thị Kim T và ông Nguyễn Chí D có đơn xin miễn giảm án phí vì điều kiện khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Áp dụng khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016, giảm 50% tiền án phí dân sự sơ thẩm cho vợ chồng bà Lê Thị Kim T, ông Nguyễn Chí D. Nên vợ chồng bà Lê Thị Kim T, ông Nguyễn Chí D phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Điều 471, 474, 476 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Buộc vợ chồng bà Lê Thị Kim T và ông Nguyễn Chí D có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Q số tiền là 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu đồng), khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2.Về án phí: Ông Nguyễn Văn Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/0006570 ngày 13/08/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Vợ chồng bà Lê Thị Kim T và ông Nguyễn Chí D phải chịu số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ