- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Anh T đp - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lý Anh T, Nguyễn Hoàng H phạm tội Giết người.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự xử dưới khung hình phạt; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2017/HSST Ngày 17 tháng 10 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lèo Thị Chan
Ông Phạm Minh Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Lý, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 02/2017/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2017 đối với các bị cáo sau đây:
1. Lý Anh T, sinh ngày: 25/3/1990; nơi ĐKHKTT: Tiểu khu B, thị trấn NT, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam, tôn giáo: không; đảng phái, đoàn thể: không; con ông: Lý Trường S và bà Sa Thị H; có vợ là Nguyễn Anh Ng (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/3/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Hoàng H, sinh ngày: 11/01/1998; nơi ĐKHKTT: Tiểu khu B, thị trấn NT, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mường; quốc tịch: Việt Nam, tôn giáo: không; Đảng phái, đoàn thể: không; con ông: Nguyễn Văn T và bà Đinh Thị V; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/3/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Anh Hoàng Văn Đ, sinh ngày: 05/10/1986; nơi ĐKHKTT: Tiểu khu C, NT, huyện M, tỉnh Sơn La (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lý Trường S, sinh năm: 1958; nơi ĐKHKTT: Tiểu khu B, thị trấn NT, huyện M, tỉnh Sơn La (có mặt).
- Bà Đinh Thị V, sinh năm: 1968; nơi ĐKHKTT: Tiểu khu B, thị trấn NT, huyện M, tỉnh Sơn La (có mặt).
- Anh Mùi Văn H, sinh năm: 1997; nơi ĐKHKTT: Tiểu khu N, thị trấn NT, huyện M, tỉnh Sơn La (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ ngày 31/10/2016, Lý Anh T cùng bạn gái là Đinh Thị N, sinh năm 2000, trú tại: bản L, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; Nguyễn Hồng Nh, sinh năm 1994; Nguyễn Hoàng H (em trai Nh); Bùi Phương N2, sinh năm 1999 (bạn gái của H), đều trú tại Tiểu khu B, thị trấn NT, huyện M, tỉnh Sơn La đến quán bán đồ nướng và đồ ăn vặt Newway của anh Mùi Văn H ở Tiểu khu N, thị trấn NT, huyện M, tỉnh Sơn La để ăn uống. Khi đến quán, T và mọi người ngồi dãy bàn phía ngoài bên phải tính từ cửa chính vào quán. Cùng lúc đó, tại quán có Hoàng Văn Đ, trú tại: Tiểu khu cấp 3, thị trấn NT, huyện M, tỉnh Sơn La và Phan Thanh H2, sinh năm 1988; Đỗ Văn L, sinh năm 1987, cùng trú tại: Tiểu khu 3, thị trấn NT, huyện M, tỉnh Sơn La; Đặng Hoàng L, sinh năm 1988, trú tại: Bản Tây Hưng, xã Chiềng Hắc, huyện M, tỉnh Sơn La cùng ăn uống tại dãy bàn phía trong bên phải. Do H có quen biết với Đ nên H đã sang mâm của Đ để mời rượu, sau đó Đ gọi điện cho Đinh Thế T2, sinh năm 1990, trú tại Tiểu khu B, thị trấn Nông trường M (là bạn của H và Đ) cùng đến uống rượu. Khi T2 đến thì ngồi vào khoảng giữa hai bên bàn ăn của T và Đ, cùng chúc rượu cả hai bên. Lúc này, Đ sang bàn của T mời rượu từng người trong mâm của T, khi mời rượu Đinh Thị N (bạn gái T) xong thì Đ bắt tay N và cầm tay N không buông ra. Thấy vậy, T rất bực tức nhưng vì nể Đ là bạn của T2 nên T không nói gì, sau đó Đ đi về bàn ăn của mình.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Hồng Nh và Bùi Phương N2 đi về trước, bàn ăn của T còn lại T, N, H và T2, bàn ăn của Đ có Đ, H2, Đỗ Văn L, Đặng Hoàng L. Đ lại sang bàn T chức rượu (lúc này Đ đã say rượu), khi sang thì Đ vào ngồi cạnh chỗ N. Đ mời rượu mọi người rồi mời rượu T, T giới thiệu là người B thì Đ chỉ tay vào mặt T nói “thằng này đéo phải dân B”, thấy bị xúc phạm nhưng nghĩ do Đ say rượu nên T không nói gì. Sau đó, Đ chỉ tay vào N và hỏi T2 “đây là bạn chú à?”, T2 trả lời “ừ”, Đ nói “bạn chú cho anh ôm cái nhé” và choàng tay phải lên khoác vai ôm cổ N. Thấy vậy, N đứng lên ngỗi ra chỗ khác không cho Đ khoác vai, T thấy hành động của Đ với bạn gái mình nên rất tức giận định đánh Đ thì Đ đã đi về bàn ăn của Đ. Sau đó, Đặng Hoàng L đã sang bên bàn T mời rượu và xin lỗi T thay cho Đ, T không nói gì nhưng vẫn tức Đ.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, bàn của Đ ra về, Đặng Hoàng L và Đỗ Văn L đi ra trước, H2 dìu Đ ra sau, khi đi qua bàn của T thì T đứng dậy nói “đứng lại, anh em mình nói chuyện đã”, H2 nói “bạn anh nó say rồi để anh đưa nó về nhà, có gì mai nói chuyện sau” và tiếp tục dìu Đ đi ra ngoài cửa quán. Do rất tức giận chuyện lúc trước và Đ không đứng lại để nói chuyện nên T nói với H “có thằng nó vừa gáy anh, mày chạy vào lấy hộ anh con dao”. H không nói gì mà chạy vào khu vực bếp của quán Newway thấy 01 con dao lưỡi bằng kim loại, chuôi bằng gỗ để ở trên mặt bàn bếp, H cầm ra đưa cho T. T cầm dao bằng tay phải đi ra cửa quán, thấy Đ đứng một mình nên T đến gần đứng đối diện cách Đ khoảng 80cm, giơ dao lên chém Đ 01 nhát hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái vào vùng đùng bên trái của Đ; rồi T lại giơ dao chém tiếp 01 nhát nữa vào vùng cổ bên trái của Đ làm Đ ngã ngửa ra phía sau. Lúc đó, H2 đang dắt xe máy, thấy T chém Đ nên H2 đã cầm chiếc mũ bảo hiểm ở trên xe máy bằng tay phải và cầm 01 chiếc gậy dùng để chụp ảnh ở trên mặt bàn uống nước lao vào đánh T, T vung dao lên trúng vào mũ bảo hiểm và bản dao trúng vào bắp tay phải của H2 làm mũ bỏa hiểm văng ra, H2 cầm gậy chụp ảnh vụt trúng đùi trái của T. Thấy vậy, mọi người vào can ngăn nên T vứt dao ở lề đường và bỏ đi. H và T2 lấy xe máy chở Đ đến Bệnh viện đa khoa T cấp cứu.
Bị hại Hoàng Văn Đ sau khi bị chiếm đã được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị 09 ngày ở Bệnh biện đa khoa T, sau đó được chuyển Bệnh viện Quân y 103 – Hà Nội điều trị tiếp đến ngày 22/11/2016 thì ra viện.
Ngày 06/01/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã có Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của Hoàng Văn Đ nhưng Hoàng Văn Đ từ chối giám định.
Tại Bệnh án điều trị và kết quả điều tra xác định tình trạng thương tích của Hoàng Văn Đ khi nhập viện như sau: Vùng thái dương đỉnh trái có vết thương nằm ngang, chiều từ trên xuống dài 04cm, kiểm tra lún vỡ xương sọ đang rỉ máu; tại 1/3 giữa cổ bên trái có vết thương chiều từ trên xuống dài 05cm, sâu 0,7cm, kiểm tra không đứt động mạch, tĩnh mạch cảnh, rỉ ít máu. Hiện nay, sức khỏe của Hoàng Văn Đ đã hồi phục, ổn định.
Hiện trường nơi xảy ra vụ án là tại khu đoạn đường Km78 + 500 Quốc lộ 43, trước cửa quán bán đồ nướng và đồ ăn vặt của gia đình anh Mùi Văn H, thuộc Tiểu khu N, thị trấn NT, huyện M, tỉnh Sơn La. Mặt đường Quốc lộ 43 có chiều rộng 12m, xác định vị trí nơi Lý Anh T dùng dao chém Hoàng Văn Đ là ở lề đường (phía trước cửa quán), cách quán anh H về hướng Nam là 07m, cách quán bán đồ ăn vặt nhà chị H3 là 6,3m, cách mặt đường Quốc lộ 43 về hướng Bắc là 1,5m.
Vật chứng thu giữ: 01 con dao lưỡi bằng kim loại, chuôi bằng gỗ, chiều dài cả dao là 34,5cm, lưỡi dao 22,5cm, bề rộng lưỡi dao là 9,5cm, bề mặt lưỡi dao có vế hoen rỉ; 01 chiếc áo khoác và 01 chiếc quần dài đã qua sử dụng.
Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm chiếc mũ bảo hiểm và chiếc gậy chụp ảnh mà Phan Thanh H2 sử dụng để đánh Lý Anh T nhưng không tìm được, do sau khi đánh T theo lời khai của H2 thì chiếc mũ bảo hiểm đã bị vỡ, trên đường đến Bệnh viện đa khoa Thảo Nguyên, H2 đã vứt chiếc mũ bảo hiểm và chiếc gậy chụp ảnh xuống rãnh thoát nước bên đường.
Tại bản kết luận giám định pháp y về ADN số 61/17/TC-AND ngày 11/5/2017 của Viện Pháp y Quốc gia đã kết luận: ADN thu được từ mẫu phết trên bề mặt lưỡi dao gửi giám định trùng khớp với ADN của Hoàng Văn Đ.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo Lý Anh T do ông Lý Trường S bố đẻ bị cáo đã đứng ra bồi thường cho người bị hại số tiền là 100.000.000đ, gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng H do bà Đinh Thị V mẹ đẻ bị cáo đã bồi thường cho người bị hại số tiền 100.000.000đ. Người bị hại Hoàng Văn Đ đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Đối với Phan Thanh H2 đã dùng mũ bảo hiểm và gậy lao vào phái T, T vung dao lên trúng vào mũ bảo hiểm bà bản dao trúng vào bắp tay phải của H2 nhưng không gây thương tích lớn. T cũng không có động cơ, mục đích tấn công H2, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với Lý Anh T về hành vi này là đúng pháp luật.
Tại cáo trạng số 30/VKS-P2 ngày 03/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố các bị cáo Lý Anh T, Nguyễn Hoàng H về tội Giết người, theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Lý Anh T, Nguyễn Hoàng H phạm tội Giết người.
Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 47; khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lý Anh T từ 04 đến 05 năm tù.
Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 47; khoản 3 Điều 52; Điều 53 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H từ 03 đến 04 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận gia đình bị cáo Lý Anh T và gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng H mỗi gia đình bồi thường cho bị hại Hoàng Văn Đ 100.000.000đ
Về vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của người bị hại: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, về trách nhiệm dân sự không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Ngày 31/10/2016, do bực tức vì Hoàng Văn Đ đã có lời nói xúc phạm và trêu ghẹo bạn gái của mình nên Lý Anh T đã có hành vi dùng dao lưỡi bằng kim loại chém 02 nhát vào vùng đầu, vùng cổ phía bên trái của Hoàng Văn Đ. Hậu quả Hoàng văn Đ bị thương phải đi bệnh viện cấp cứu và điều trị. Đối với Nguyễn Hoàng H biết việc Lý Anh T và Hoàng Văn Đ có mẫu thuẫn với nhau tại mâm rượu và biết T đang rất bực tức với một ai đó nên khi T bảo H lấy dao thì H nhận thức được việc T sẽ dùng dao để đánh nhau nhưng vẫn tiếp nhận ý chí của T, giúp T lấy dao để chém Đ.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với kết quả thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ và thương tích của người bị hại
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng hung khí nguy hiểm “dao sắc” chém vào vùng đầu, vùng cổ là vùng trọng yếu trên cơ thể của người bị hại có khả năng dẫn đến chết người, việc bị hại Hoàng Văn Đ không chết là do được cấp cứu kịp thời. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố các bị cáo về tội Giết người, theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Trong vụ án này, bị cáo Lý Anh T là người khởi xướng và thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nguyễn Hoàng H tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, đưa dao cho bị cáo T để thực hiện hành vi chém bị hại Hoàng Văn Đ. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân, các bị cáo tuổi đời còn trẻ, bồng bột, thanh niên tính, khi bị xúc phạm không tự kiềm chế được bản thân; có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình các bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại cho người bị hại; các bị cáo đều có ông bà ngoại có công với cách mạng; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo và các bị cáo phạm tội chưa đạt vì hậu quả chết người chưa xảy ra. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo Nguyễn Hoàng H thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, cần áp dụng Điều 53 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự xử dưới khung hình phạt để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Theo giấy biên nhận tiền ngày 03, 04/12/2016 thì ông Lý Trường S bố đẻ bị cáo Lý Anh T đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000đ và giấy biên nhận ngày 22/5/2017, bà Đinh Thị V mẹ đẻ bị cáo Nguyễn Hoàng H đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền 100.000.000đ. Người bị hại Hoàng Văn Đ đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm. Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường trên là tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Tại phiên tòa, ông Lý Trường S bố đẻ bị cáo Lý Anh T và bà Đinh Thị V mẹ đẻ bị cáo Nguyễn Hoàng H là người đứng ra bồi thường số tiền trên cho người bị hại và không yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 con dao lưỡi bằng kim loại, chuôi bằng gỗ là phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định được con dao trên là của anh Mùi Văn H và anh H có ý kiến không xin lại, đề nghị xử lý theo quy định pháp luật nên cần tịch thu tiêu hủy cùng với 01 chiếc áo và 01 chiếc quần dài thu giữ của Lý Anh T không còn giá trị sử dụng
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lý Anh T, Nguyễn Hoàng H phạm tội Giết người.
[1] Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 47; khoản 3 Điều 52 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lý Anh T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 19/3/2017.
Áp dụng khoản 2 Điều 93; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 47; khoản 3 Điều 52; Điều 53 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 19/3/2017.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585 Bộ luật Dân sự, chấp nhận sự thỏa thuận bồi thường, gia đình bị cáo Lý Anh T (đại diện là ông Lý Trường S) đã bồi thường cho người bị hại số tiền 100.000.000đ và gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng H (đại diện là bà Đinh Thị V) đã bồi thường cho người bị hại số tiền 100.000.000đ.
[3] Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao lưỡi bằng kim loại (loại dao đầu bằng) có chuôi dao làm bằng gỗ, chiều dài cán dao 34,5cm; cán dao dài 12cm, bề rộng lưỡi dao 9,5cm, trên bề mặt lưỡi dao có vết hoen rỉ kim loại, dao đã qua sử dụng; 01 chiếc áo khoác màu xanh lá cây, cổ áo và gấu áo màu đen đã qua sử dụng và 01 chiếc quần dài bằng vải màu xám, đã qua sử dụng.
[4] Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Các bị cáo; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tối Cao; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La; - PC45 - Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam - Công an tỉnh Sơn La; - Bị cáo; người bị hại; NLQ; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Phòng KTNV - THA; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Xuân Nghiêm |