vanban.org

Bản án 03A/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14…

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ng được ly hôn anh Lưu Xuân Q. Về án phí: Chị Trần Thị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03A/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 01 năm 2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Biên.

Ông Nguyễn Văn Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Y D

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dung tham gia phiên

tòa: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên

Dũng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 238/2022/TLST-HNGĐ ngày 04/10/2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Q định đưa vụ án ra xét xử số 70/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2022 và Q định hoãn phiên tòa số 46/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29/12/2022 , giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ng, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ dân phố Th C,

thị trấn Nh B, huyện Y D, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Lưu Xuân Q, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn Tân Ninh, xã

Tư Mại, huyện Y D, tỉnh Bắc Giang.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/8/2022, bản tự khai và quá trình tố tụng

tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Ng trình bày:

Chị và anh Lưu Xuân Q kết hôn ngày 26/4/2002 trên cơ cở tự nguyện và

có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T M, huyện Y D, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị về nhà chồng làm dâu sinh sống cùng gia đình chồng. Ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong việc phát triển làm ăn kinh tế gia đình gia đình, ngoài ra anh Q còn thường xuyên đánh đập chị, giữa vợ chồng lạnh nhạt, không còn quan tâm đến nhau. Chị và anh Q đã tự hòa giải nhiều lần để vợ chồng hòa hợp nhưng không có kết quả, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Khoảng năm 2017 anh Q còn đuổi chị ra khỏi nhà. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và đã ly thân với anh Lưu Xuân Q từ năm 2017 đến nay. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải Q cho tôi được ly hôn với anh Lưu Xuân Q.

Về con chung: Chị và anh Q 01 con chung là cháu Lưu Xuân Q, sinh

ngày 18/02/2003. Hiện nay cháu Q đã trưởng thành và tự lo lắng được cuộc sống cho bản thân nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết về nuôi con chung.

Về Tài sản chung, công nợ, ruộng đất nông nghiệp: Chị và anh Q không

có gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lưu Xuân Q: Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ

án, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho anh Q, nhưng anh Q không có ý kiến gì và không đến Tòa án để làm việc. Tại phiên toà hôm nay, anh Q vắng mặt không có lý do.

Ngày 29/12/2022, Tòa án nhân dân huyện Y D mở phiên tòa, tại phiên tòa

anh Lưu Xuân Q vắng mặt không có lý do, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y D đề nghị hoãn phiên tòa, Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Ng có đơn xin xét xử vắng mặt,

anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử công bố nội dung vụ án, thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Ng và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa

phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải Q vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng và quan điểm về việc giải Q vụ án như sau:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ quy định của

BLTTDS.

Đối với việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp

hành đầy đủ quy định của pháp luật. Anh Q không thực hiện nghĩa vụ, bỏ mất quyền của mình được Bộ luật tố tụng dân sự quy định..

Quan điểm về việc giải Q vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều

28, các Điều 35, 39, 227, 228, 271, 273 BLTTDS; Căn cứ các Điều 51, 53, 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình để xử:

- Quan hệ vợ chồng: Chị Trần Thị Ng được ly hôn anh Lưu Xuân Q.

- Án phí: Buộc chị Trần Thị Ng phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ

thẩm.

- Kiến nghị khắc phục: không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại

phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn là chị Trần Thị Ng đã có đơn

xin xét xử vắng mặt; bị đơn là anh Lưu Xuân Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Ng là nguyên đơn có

đơn xin ly hôn anh Lưu Xuân Q, anh Q có nơi cư trú tại thôn Tân Ninh, xã Tư Mại, huyện Y D, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải Q thuộc Tòa án nhân dân huyện Y D, tỉnh Bắc Giang.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ng và anh Lưu Xuân Q kết hôn

trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tư Mại, huyện Y D, tỉnh Bắc Giang vào ngày 26/4/2002. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Ng và anh Q là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị Ng, sau khi kết hôn chị Ng về nhà chồng làm dâu, ở chung cùng

gia đình chồng. Ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính cách không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung trong việc phát triển làm ăn kinh tế gia đình gia đình, ngoài ra anh Q còn thường xuyên đánh đập chị, giữa vợ chồng lạnh nhạt, không còn quan tâm đến nhau. Chị và anh Q đã tự hòa giải nhiều lần để vợ chồng hòa hợp nhưng không có kết quả, mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Khoảng năm 2017 anh Q còn đuổi chị ra khỏi nhà. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và đã ly thân với anh Lưu Xuân Q từ năm 2017 đến nay. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải Q cho tôi được ly hôn với anh Lưu Xuân Q.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương, ông Hoàng Văn Tuyên -

trưởng thôn T N, xã T M cho biết: Chị Ng và anh Q kết hôn năm 2002. Sau khi kết hôn chị Ng về nhà anh Q làm dâu và sinh sống tại địa phương. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống và không có tiếng nói chung trong việc phát triển làm ăn kinh tế. Năm 2017 thì chị Ng đã về nhà bố mẹ đẻ ở tổ dân phố Th C, thị trấn Nh B sinh sống và ly thân anh Q từ đó cho đến nay. Hiện nay anh Q đi làm ở đâu địa phương không nắm được cụ thể, nhưng thỉnh thoảng vẫn thấy anh Q về thăm gia đình, sau đó lại đi làm ăn ngay. Nay, chị Ng xin ly hôn anh Q thì đề nghị Tòa án giải Q vụ án theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Lưu Xuân Tiến, ông Tiến là bố đẻ

của anh Lưu Xuân Q cho biết: Chị Ng anh Q kết hôn năm 2002, ban đầu chung sống hạnh phúc. Khoảng năm 2016 thì vợ chồng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị Ng anh Q tính cách không hợp nhau thường xuyên cãi nhau, năm 2017 mâu thuẫn trở nên trầm trọng, chị Ng đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị sinh sống và ly thân với anh Q.

Chị Ng xin ly hôn anh Q thì đề nghị Tòa án giải Q theo quy định của pháp

luật. Hiện nay anh Q đang làm công nhân ở khu vực Bắc Ninh, địa chỉ cụ thể thì ông không biết, thi thoảng vẫn về thăm gia đình.

Ông đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, các quyết định của Tòa án và đã

giao tận tay cho anh Q khi anh Q về thăm nhà. Tuy nhiên, anh Q có nói là anh đồng ý ly hôn chị Ng, nhưng vì công việc bận nên không đến Tòa án để giải quyết ly hôn được, đề nghị Tòa án cứ giải quyết theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên, cho thấy hôn nhân giữa chị Ng anh Q đã lâm

vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị Ng được ly hôn với anh Q là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

. Về con chung: Theo lời khai, tài liệu chị Ng cung cấp và theo xác

minh tại địa phương thì giữa chị Ng và anh Q có 01 con chung là cháu Lưu Xuân Q, sinh ngày 18/02/2003 . Hiện nay cháu Q đã trưởng thành và tự lo lắng được cuộc sống cho bản thân, chị Ng không đề nghị Tòa án giải quyết về nuôi con chung. Do vậy, HĐXX không xem xét giải quyết.

. Về tài sản chung, công nợ và ruộng đất nông nghiệp: Chị Ng không

yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Chị Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại

Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo

quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

Q ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83

Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 150, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ng được ly hôn anh Lưu Xuân Q.

2. Về án phí: Chị Trần Thị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ

thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0009678 ngày 4/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng. Xác nhận chị Ng đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản

án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh Bắc Giang;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

- VKSND huyện Yên Dũng;

- Các đương sự;

- Chi cục THADS huyện Yên Dũng;

- UBND xã Tư Mại, huyện Yên Dũng;

- Lưu HS, Vp.

Nguyễn Thị Anh

Cỡ chữ