vanban.org

Bản án 03

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh H mức án 01 năm 03 tháng tù (Một năm ba tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thanh H, Võ Minh T tàng trữ trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Tuyên bố; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án s : 03/2021/HS-ST
Ngày: 15-01-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N D N THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Phước Long và ông Lý Thái Thế

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân thành ph Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- i diện iện ki m sát nhân dân thành ph a éc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Mãi - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành ph Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s 58/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 01/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2021 đ i với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1993

Tại thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

Nơi cư trú: Ấp O, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

Nghề nghiệp: Trồng kiểng;

Trình độ học vấn: 10/12

Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; qu c tịch: Việt Nam

Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1968 (chết) và bà Trần Thị C, sinh năm 1967

Vợ, con: chưa có

Tiền sự: Ngày 16/7/2019 bị Ủy ban nhân dân xã Tân Khánh Đông, thành ph Sa Đéc ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong Quyết định vào ngày 16/10/2019

Tiền án: không

Tạm giữ, tạm giam: không

Hiện bị cáo tại ngoại; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Võ Minh T1, sinh ngày 25/8/2001

Tại huyện V, tỉnh Đồng Tháp

Nơi cư trú: Ấp I, xã D1, huyện V, tỉnh Đồng Tháp

Nghề nghiệp: Trồng kiểng;

Trình độ học vấn: 9/12

Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; qu c tịch: Việt Nam

Con ông: Võ Văn S1, sinh năm 1969 và bà Phạm Thị Tuyết H1, sinh năm 1975

Vợ, con: chưa có

Tiền sự, tiền án: Không

Tạm giữ: ngày 02/5/2020 đến ngày 08/5/2020 được tại ngoại

Hiện bị cáo tại ngoại; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1- Anh Quách Ngọc G, sinh năm 1992 (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp I, xã D1, huyện V, tỉnh Đồng Tháp

2- Anh Võ Chí T2, sinh ngày 24/5/2002 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp E, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

3-Anh Quách Ngọc S2, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Khóm U, phường X, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

4- Anh Võ Văn S1, sinh năm 1969 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp I, xã D1, huyện V, tỉnh Đồng Tháp

5- Chị Trần Thị C, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp M, xã D, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh H và Võ Minh T1 là bạn bè với nhau và đều là những người nghiện ma túy.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 01/5/2020, H điều khiển xe mô tô đến khu vực bến xe thành ph S gặp 01 người phụ nữ tên L (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 bịch ma túy với giá 500.000 đồng.

Sau đó, H cất giấu bịch ma túy trong người rồi điều khiển xe chạy về nơi H thuê đất trồng hoa kiểng tọa lạc ấp N, xã D, thành ph S. Sau khi về đến nơi thì H gặp T1 và Quách Ngọc G nên H lấy bịch ma túy vừa mua được ra sử dụng cùng với T1 và G hết 1/2 bịch ma túy.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, H nhận được điện thoại của Võ Chí T2 nhờ H mua dùm 01 bịch ma túy để sử dụng thì H cho T2 biết là vừa mua được 01 bịch ma túy nhưng đã sử dụng được 1/2 bịch, nếu T2 cần thì H tặng cho T2 1/2 bịch ma túy còn lại để sử dụng thì T2 đồng ý.

Sau đó, H lấy bịch ma túy còn lại và một s dụng cụ dùng để sử dụng ma túy rồi kêu T1 đem đến bến đò ấp E để H điện thoại kêu T2 đến lấy thì T1 đồng ý, T1 treo bịch nylon màu vàng bên trong có bịch ma túy cùng các dụng cụ để sử dụng ma túy trên xe mô tô biển s 66L1-088.57 rồi điều khiển xe đến bến đò ấp E.

Đến khoảng 02 giờ ngày 02/5/2020, T1 lấy bịch nylon màu vàng bên trong có bịch ma túy cùng các dụng cụ để sử dụng ma túy để dưới g c cây trứng cá gần vị trí T1 đang ngồi rồi điện thoại thông báo cho H biết để liên lạc với T2 đến lấy ma túy thì bị Công an xã Tân Khánh Đông, thành ph Sa Đéc bắt quả tang và thu giữ đồ vật gồm:

- 01 bịch nylon được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 nỏ thủy tinh; 01 bình nhựa và 01 đoạn ng hút để trong 01 bịch nylon màu vàng được niêm phong theo quy định;

- 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ đen, biển s 66L1-088.57;

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, bên trong có lắp sim s 0774002741.

Tại kết luận giám định s 364/KL-KTHS ngày 04/5/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:

- Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín được niêm phong trong bao thư gửi đến giám định là chất ma túy có kh i lượng 0,103 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ đen, biển s 66L1-088.57 thuộc sở hữu của anh Quách Ngọc S2 (anh ruột của Quách Ngọc G) nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph Sa Đéc đã trao trả xe mô tô nêu trên cho anh S2 nhận xong.

Tại bản cáo trạng s 59/CT-VKSTPSĐ ngày 27/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đéc đã truy t các bị cáo Nguyễn Thanh H, Võ Minh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị:

- Về hình phạt chính:

+ Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.

+ Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Minh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đ i với các bị cáo.

Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nh hình phạt.

Người làm chứng không có ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục t tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục t tụng của Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t , điều tra, truy t . Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia t tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan t tụng và người tiến hành t tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang được lập lúc 02 giờ ngày 02/5/2020 của Công an xã Tân Khánh Đông, thành ph Sa Đéc, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định s 364/KL-KTHS ngày 04/5/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Qua đó đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 01/5/2020, Nguyễn Thanh H có hành vi đi đến khu vực bến xe thành ph S mua 01 bịch ma túy rồi cất giấu trong người mang về nơi trồng hoa kiểng H đang thuê để sử dụng cùng với Võ Minh T1 và Quách Ngọc G một phần bịch ma túy, còn một phần bịch ma túy còn lại H kêu T1 cất giấu để mang đến bến đò ấp E tặng cho Võ Chí T2 để sử dụng. Đến khoảng 02 giờ ngày 02/5/2020, trong lúc T1 đang ngồi đợi T2 đến nhận ma túy thì bị bắt quả tang, thu giữ chất ma túy có kh i lượng 0,103 gam, loại Methamphetamine.

Theo Danh mục II ban hành kèm Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ thì Methamphetamine là một trong những chất ma túy, chất hướng thần độc hại, bị cấm sử dụng trái phép, các chất này chỉ được sử dụng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm, trong l nh vực y tế và phải theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.

Các bị cáo đều là người đã thành niên nên có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được r ng ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần, là chất độc hại. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép , vì ma túy s làm ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe, ý chí phấn đấu của người sử dụng. Thế nhưng, do tư tưởng xấu, không biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, bị cáo H đã có hành vi đi mua ma túy ở khu vực bến xe thành ph S mang về sử dụng cùng với T1, sau đó H kêu T1 mang s ma túy còn lại cất giấu và đi đến khu vực bến đò ấp E để giao cho Võ Chí T2, trong lúc bị cáo T1 đang đợi T2 đến nhận ma túy thì bị Công an xã Tân Khánh Đông, thành ph Sa Đéc kiểm tra phát hiện bắt quả tang, vật chứng bị thu giữ của các bị cáo là chất ma túy có kh i lượng 0,103 gam, loại Methamphetamine.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi đó là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác như: trộm cắp, cướp giật, góp phần làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo phạm tội với lỗi c ý, động cơ mục đích phạm tội là nh m để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân.

3 Trong vụ án này, vai trò của từng bị cáo được thể hiện như sau:

- Bị cáo Nguyễn Thanh H là thanh niên, có tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe, tuy nhiên bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, vì vậy bị cáo hiểu được tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy cũng như quy định của pháp luật về việc xử lý đ i với các loại tội phạm về ma túy, nếu như bị cáo biết ăn năn h i cải thì bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản thân và phụ giúp gia đình. Tuy nhiên với l i s ng thích hưởng thụ, chỉ biết s ng cho bản thân, bị cáo đã tiếp tục sử dụng ma túy và trở thành đ i tượng nghiện nên bị cáo đã có hành vi đi mua ma túy ở khu vực bến xe thành ph S mang về sử dụng cùng với T1 và G, sau đó bị cáo còn kêu T1 cất giấu mang s ma túy còn lại đến khu vực bến đò ấp E tặng cho T2 sử dụng. Trong lúc bị cáo T1 đang đợi T2 đến nhận ma túy thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang.

Từ những phân tích trên cho thấy hành vi của bị cáo đủ yếu t cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình với vai trò đồng phạm, thực hành tích cực.

- Bị cáo Võ Minh T1 là người có tuổi đời còn trẻ, l ra bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản thân và phụ giúp gia đình. Tuy nhiên với l i s ng thích hưởng thụ, chỉ biết s ng cho bản thân, bị cáo đã tụ tập bạn bè sử dụng ma túy và trở thành đ i tượng nghiện nên sau khi đến nơi trồng hoa kiểng của H chơi thì bị cáo đã sử dụng ma túy cùng với H và G, sau đó H kêu bị cáo cất giấu ma túy mang tặng cho T2 thì bị cáo đã đồng ý nên bị cáo đã cất giấu mang s ma túy còn lại của H đi đến bến đò ấp E giao cho T2, trong lúc bị cáo đang ngồi đợi T2 đến nhận ma túy thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang.

Từ những phân tích trên cho thấy hành vi của bị cáo đủ yếu t cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình với vai trò đồng phạm, thực hành tích cực.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuy n, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị ph t tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ………

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có kh i lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d)…………”

Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Các bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. Xét thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, bắt các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân t t, tu dưỡng bản thân, có ý thức chấp hành pháp luật, nh m răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh gia đình của các bị cáo khó khăn, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đ i với các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải, vì vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nh một phần mức hình phạt đ i với các bị cáo. Riêng bị cáo T1 có nhân thân t t, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo T1 có bà nội tham gia Cách mạng được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, vì vậy cần áp dụng thêm Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét trong việc quyết định hình phạt đ i với bị cáo T1.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về xử lý vật chứng:

- Đ i với kh i lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bao thư và các công cụ dùng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đ i với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, bên trong có lắp sim s 0774002741 của bị cáo Võ Minh T1 cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Hiện các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự thành ph Sa Đéc đang quản lý).

Đ i với 01 USB có lưu giữ đoạn ghi âm, ghi hình khi lấy lời khai, hỏi cung các bị cáo Nguyễn Thanh H, Võ Minh T1 cần tiếp tục quản lý để lưu hồ sơ vụ án.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thanh H, Võ Minh T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Đ i với người phụ nữ tên L (không rõ họ tên, địa chỉ) có hành vi bán ma túy cho bị cáo H, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph Sa Đéc tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

Đ i với Quách Ngọc G có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và Võ Chí T2 có hành vi xin ma túy của bị cáo H để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành ph Sa Đéc đã có văn bản đề nghị Công an xã Tân Khánh Đông, thành ph Sa Đéc nơi G, T2 cư trú xem xét, xử lý hành chính theo quy định.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh H mức án 01 năm 03 tháng tù (Một năm ba tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

- Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Minh T1 mức án 01 năm tù (Một năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/5/2020 đến ngày 08/5/2020).

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật T tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bao thư ghi niêm phong s 386 ngày 02/5/2020 có đóng hình dấu tròn màu đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi ghi họ tên Trần Thị Ý Nhi, Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Thành Hương và Võ Minh T1;

- 01 nỏ thủy tinh;

- 01 bình nhựa;

- 01 đoạn ng hút.

Tiếp tục quản lý: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, bên trong có lắp sim s 0774002741 của bị cáo Võ Minh T1 để đảm bảo thi hành án.

(Hiện các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành ph Sa Đéc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/12/2020).

Tiếp tục quản lý 01 USB có lưu giữ đoạn ghi âm, ghi hình khi lấy lời khai, hỏi cung các bị cáo Nguyễn Thanh H, Võ Minh T1 để lưu hồ sơ vụ án.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016

Các bị cáo Nguyễn Thanh H, Võ Minh T1 mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Cỡ chữ