vanban.org

Bản án 03

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 02/01/2023 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/01/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 36/2022/HSST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú T về hình phạt chính và hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thị H. [2] Điều luật áp dụng và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bị cáo Trần Thị H phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 03/2022/HS-PT
Ngày 12 tháng 01 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ T

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Văn Toàn

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Quang Vũ

Ông Tạ Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú T đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2022/TLPT-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 do có kháng cáo của bị cáo Trần Thị H đối với Bản án hình sơ thẩm số 36/2022/HSST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú T.

Bị cáo bị kháng cáo:

Trần Thị H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh năm1983; Nơi ĐKHKTT: Khu Đa Đu, xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T; Chỗ ở hiện nay: Khu Đa Đu, xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Trần Văn L, sinh năm 1958 và bà Trần Thị Ng, sinh năm 1958; Chồng: Phạm Quốc H, sinh năm 1981; Con: Có 2 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009; Anh chị em ruột: Có 4 chị em, bị cáo là thứ hai;

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người tham gia tố tụng khác Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quá trình điều tra đối với hành vi giao cấu của Hoàng Đức Mvới cháu Phạm Bảo Nh, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Th đã tạm giữ của Hoàng Đức M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng đã qua sử dụng, lắp sim số 0972.394.311 và 0896.045.469. Kiểm tra chiếc điện thoại trên phát hiện phát hiện tại mục tin nhắn có một số tin nhắn chứa nội dung liên quan đến việc mua bán số lô, số đề giữa Hoàng Đức Mvới chủ số điện thoại 0926.286.895. Mạnh khai nhận, ngày 26/4/2022, khi Mạnh đang ở tại khu 10 xã Tu Vũ, Mạnh đã sử dụng số điện thoại 0972.394.311 lắp trong chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime của mình, nhắn tin đến số điện thoại 0962.286.895 của Trần Thị H, sinh năm 1983, trú tại khu Đa Đu, xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T để mua số lô, số đề của H với tổng số tiền là 14.600.000đ.

Căn cứ lời khai của Hoàng Đức Mvà các tài liệu, chứng cứ thu giữ thập được, hồi 18 giờ ngày 28/4/2022, Cơ quan Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Th đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Thị H tại khu Đa Đu, xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra thu giữ 01 điện thoại Nokia150 lắp sim số 0926.286.895, 01 CCCD mang tên Trần Thị H, 01 điện thoại Iphone 6 lắp sim số 0362.131.325. Cơ quan điều tra đã triệu tập Trần Thị H đến Trụ sở công an huyện Thanh Thđể làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, nội dung việc mua bán số lô, số đề giữa Hoàng Đức Mvà Trần Thị H được làm rõ như sau:

Trần Thị H, sinh năm 1983, trú tại khu Đa Đu, xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hoạt động dịch vụ ghi xổ số, lô tô Nhà nước. Nhưng do muốn có thêm thu nhập nên khoảng 1 tuần trước khi bị phát hiện, H lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày để thực hiện hành vi bán số lô, số đề. Hàng ngày, tại nhà ở của mình, H sẽ là người trực tiếp đứng ra bán các số lô, số đề cho khách, khi khách đến mua sẽ đọc các số lô, số đề cùng số tiền mua tương ứng để H ghi lại vào bảng đề cùng với tên khách mua. Sau khi có kết quả mở thưởng, căn cứ vào bảng đề để xác định thắng thua và H sẽ trực tiếp đứng ra trả thưởng cho khách. Cách thức chơi được Hvà những người mua số lô, số đề thỏa thuận như sau:

H và những người mua số lô, số đề sẽ căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày để làm cơ sở xác định thắng thua. Số tiền mua các số lô, số đề cũng như tiền thắng cược của kháchsẽ được H và người mua thanh toán sau khi đã có kết quả mở thưởng xổ số miền Bắc của ngày hôm đó. Về số đề, người chơi có thể mua của Hmột hoặc nhiều số có 2 chữ số từ 00 đến 99 với số tiền tùy ý cho mỗi số. Các số này sau đó sẽ được đem ra so sánh với 2 chữ số cuối giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày hôm đó. Nếu số đề người chơi đã mua trùng với 2 chữ số cuối của giải đặc biệt thì người chơi đó sẽ là người thắng cuộc và H phải trả cho người đó số tiền bằng 70 lần số tiền họ đã bỏ ra để mua số đề đã trúng thưởng. Ngược lại, nếu số đề người chơi đã mua không trùng với 2 chữ số cuối của giải đặc biệt thì người đó sẽ là người thua cuộc và phải mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra mua số đề đó cho H. Trong số đề có quy ước bóng: 0 bóng 5; 1 bóng 6; 2 bóng 7; 3 bóng 8; 4 bóng 9. Ngoài cách chọn từng số riêng lẻ để mua, người chơi có thể mua các số theo bộ: Dây, tổng, đầu, đuôi, kép. Bộ “dây” là 1 bộ gồm 08 số trong các cặp bóng. Ví dụ: Dây 01 bao gồm 08 số trong bộ 0 bóng 5; 1 bóng 6 là 01; 10; 06; 60; 15; 51; 56; 65. Bộ “tổng” gồm các số khi cộng hai chữ số của số đó lại thì ra số tổng người chơi đã chọn hoặc chữ số cuối của tổng hai chữ số là số tổng người chơi đã chọn. Ví dụ: Tổng 1 gồm các số: 01; 10; 29; 92; 38; 83; 47; 74; 56; 65. Bộ “đầu” bao gồm tất cả các số có chữ số đầu trùng với số người chơi đã chọn. Ví dụ: Đầu 0 gồm các số: 00; 01; 02; 03... đến 09. Bộ “đuôi” gồm tất cả các số đề có chữ số thứ 2 trùng với số đuôi người chơi đã chọn. Ví dụ: Đuôi 9 gồm các số: 09; 19; 29...99. Bộ “kép” gồm có kép lệch và kép bằng. Kép bằng gồm 10 số có hai chữ số giống nhau: từ 00 đến 99. Kép lệch gồm số có hai chữ số là bóng của nhau ví dụ: 05; 50; 16; 61...

Về số lô, tương tự như số đề, người chơi cũng có thể mua của Hmột hoặc nhiều số có 2 chữ số từ 00 đến 99 nhưng mỗi số sẽ mua theo điểm. Người mua có thể mua không giới hạn điểm cho mỗi số, mỗi điểm được quy đổi ra số tiền tương ứng là 22.000đ. Các số này sau đó được đem ra so sánh với 2 chữ số cuối của tất cả 27 giải được Công ty xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày. Nếu số lô người chơi đã mua trùng với 2 chữ số cuối của một trong 27 giải của kết quả mở thưởng xổ số thì người chơi đó là người thắng cuộc và H phải trả cho người đó số tiền tương ứng với số điểm người đó đã bỏ ra mua số lô đã trúng thưởng là 80.000đ/01 điểm. Nếu số lô người chơi đã mua không trùng với hai chữ số cuối của bất kì giải nào trong 27 giải của kết quả mở thưởng xổ số thì người mua là người thua cuộc và mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra mua số lô đó choH. Ngoài cách mua riêng lẻ từng số, người chơi có thể chọn cách mua nhiều số cùng lúc (lô xiên 2, lô xiên 3, lô xiên 4). Theo đó, lô xiên 2 tức người chơi mua cùng lúc 2 số lô, nếu cả 2 số lô cùng trúng thưởng thì người chơi sẽ là người thắng cuộc và nhận thưởng bằng 10 lần số tiền người chơi đã bỏ ra để mua 2 số lô đó, ngược lại nếu chỉ có 1 hoặc không có số lô nào trong 2 số lô đã mua trúng thưởng thì người chơi sẽ là người thua cuộc và mất toàn bộ số tiền người chơi đã bỏ ra để mua số lô xiên đó. Tương tự như vậy, lô xiên 3 và lô xiên 4 là mua cùng lúc 3 và 4 số lô, nếu người chơi thắng cược sẽ được nhận thưởng 40 lần đối với lô xiên 3 và 80 lần đối với lô xiên 4 còn nếu người chơi thua cuộc thì cũng sẽ mất toàn bộ số tiền bỏ ra để mua các số lô xiên đó.

Ngày 26/4/2022, do có quen biết từ trước, Hoàng Đức Mđã nhắn tin từ số điện thoại 0972.394.311 lắp trong chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7 Prime, màu trắng, đã cũ của Mạnh đến số điện thoại 0962.286.895 lắp trong chiếc điện thoại Nokia 105 màu đỏ, đã cũ của Trần Thị H hỏi mua các số lô, số đề thì H đồng ý. Sau đó, Mạnh nhắn tin cho H các số lô, số đề cùng số tiền mua tương ứng cụ thể gồm: các số lô 98-95-88-91 mỗi số 50 điểm, lô xiên 98-95-88-91 là 200.000đ, lô xiên 95-99 là 200.000đ, lô xiên 98-91 là 200.000đ, lô xiên 91-88 là 200.000đ, lô xiên 95-91 là 200.000đ, đề 88-44 = 200.000đ. Tổng số tiền H bán số lô, số đề cho Mạnh ngày 26/4/2022 là 14.600.000đ, số tiền này Mạnh chưa trả cho H.

Bằng cách thức tương tự như ngày 26/4/2022, ngày 27/4/2022, H đã bán cho Mạnh các số lô, số đề gồm: số lô 87 = 100 điểm, số đề 87 = 200.000đ, các số đề ba càng 087-687 mỗi số 200.000đ. Tổng số tiền H bán số lô, số đề cho Mạnh ngày 27/4/2022 là 2.800.000đ, số tiền này Mạnh chưa trả cho H.

Cả hai ngày 26/4/2022 và ngày 27/4/2022, Hoàng Đức Mđều không trúng thưởng, tổng số tiền Mạnh thua cược là 17.400.000đ, H cho Mạnh 400.000đ, Mạnh còn nợ H số tiền 17.000.000đ. Ngày 27/4/2022, Mạnh sử dụng tài khoản ngân hàng số 2715205388930 của Mạnh đăng ký tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Thanh S chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng số 2717205322360 của H đăng ký tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Thanh S số tiền 10.000.000đ để trả nợ tiền mua số lô, số đề cho H. Còn lại 7.000.000đ Mạnh vẫn nợ H chưa trả.

Ngoài việc bán số lô, số đề cho Hoàng Đức Mvào các ngày 26/4/2022 và 27/4/2022, Trần Thị H còn bán các số lô, số đề cho một số khách đi đường H không biết tên tuổi địa chỉ. Tuy nhiên sau khi trả thưởng, H đã xóa bỏ toàn bộ giấy tờ có liên quan, tại thời điểm làm việc với Cơ quan điều tra, H không nhớ đã bán những số lô, số đề nào với số tiền cụ thể là bao nhiêu.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 13/5/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Thđã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hoàng Đức Mvề tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” và “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 145 và Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; đối với Trần Thị H về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Tại Cơ quan điều tra, các bị can đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, lời khai của các bị can phù hợp với nhau, với lời khai của người bị hại, những người liên quan, người làm chứng, kết quả giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2022/HSST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú T đã Quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị H.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội "Đánh bạc".

Xử phạt: bị cáo Trần Thị H 07 (bảy) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Phạt bổ sung 10.000.000 đồng đối với bị cáo Trần Thị H để sung ngân sách Nhà nước.

Bản án còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định của pháp luật

Ngày 30/9/2022 bị cáo Trần Thị H có đơn kháng cáo và ngày 13/12/2022 bị cáo Trần Thị H có đơn kháng cáo bổ sung đề nghị cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú T trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị H. Sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2022/HSST ngày 23/9/2022, của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú T theo hướng:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội "Đánh bạc".

Xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 18 đến 21 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Thị H cho UBND xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Trần Thị H có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Thị H.

Buộc các bị cáo Trần Thị H phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Trần Thị H.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Trần Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.

Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo Trần Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vụ án vắng mặt bị cáo Trần Thị H.

Căn cứ buộc tội đối với bị cáo:

Ngày 26/4/2022, Hoàng Đức Mvà Trần Thị H, sinh năm 1983, trú tại khu Đa Đu, xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T còn thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức mua, bán số lô, số đề với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 14.600.000đ, đã đến mức xử lý hình sự. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác, phù hợp với thời gian, địa điểm và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Thị H phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt bị cáo Trần Thị H với mức hình phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” là phù hợp với quy định của pháp luật.

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới là Đơn xin cải tạo ngoài xã hội ngày 08/11/2022 của bị cáo có xác nhận UBND xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T đề nghị cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội do bị cáo có nhân thân tốt, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương; ngoài ra hoàn cảnh gia đình của bị cáo gặp nhiều khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới đối với bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Bị cáo cũng có hoàn cảnh khó khăn, bản thân mang bệnh nặng không có khả năng lao động, nuôi 2 con nhỏ và bố mẹ già do vậy cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Vì vậy cần sửa bản án số 36/2022/HSST ngày 23/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú T về hình phạt chính và hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thị H.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú T là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 36/2022/HSST ngày 23 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú T về hình phạt chính và hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thị H.

[2] Điều luật áp dụng và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị H phạm tội "Đánh bạc".

Xử phạt bị cáo Trần Thị H 21 (Hai mươi mốt) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Thị H cho UBND xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Trần Thị H có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Thục L, huyện Thanh S, tỉnh Phú T trong việc giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Trần Thị H.

Buộc các bị cáo Trần Thị H phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Trần Thị H.

[3] Về án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ