vanban.org

Bản án 03

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo 21 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ( 15/10/2018). Vật chứng: Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lò Thị C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản số: 03/2019/HSST
Ngày 17/01/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Bạc Thị Kiên

2. Ông Nguyễn Quang Khải

- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Đoản - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Điện Biên.

- Đại diện VKSND huyện Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Đạt chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 17/01/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2018/HSST ngày 28/12/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:02/2019/QĐXX-HS ngày 04/01/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên. Lò Thị Ch.Tên gọi khác: Không;Giới tính: Nữ

Sinh năm 1983. Tại tỉnh Điện Biên. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Đội 15, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt nam. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp:Làm ruộng. Trình độ văn hoá: 5/12. Con ông: Lò Văn N, sinh năm:1957, con bà: Lò Thị Muôn, sinh năm:1961. Gia đình bị cáo có 3 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Bị cáo có chồng Hoàng Văn H, sinh năm 1977 đã ly hôn năm 2008, không có con. Tiền án, tiền sự: Không: Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa xét xử: Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/10/2018. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 15/10/2018, Lò Thị C đi bộ từ nhà ở đội 15, xã Noong Hẹt, huyện Đ đến khu vực đội 18, xã T, huyện Đ để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực đội 18, xã T, huyện Đ, C gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 35 tuổi không biết tên và địa chỉ 01 gói heroine được gói bên ngoài bằng hai lớp nilon màu trắng và 01 gói chứa 05 viên Methamphetamine, với giá 450.000đ. Sau khi mua được, C mở ra xem rồi gói lại cầm ở tay trái đi tìm chỗ để sử dụng.Hồi 15 giờ 30 cùng ngày, khi C đang cầm số ma túy ở tay trái tại khu vực đội 18, xã T, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Đ, phát hiện bắt quả tang, thu giữ của C 01 gói heroine và 05 viên Methamphetamine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 15/10/2018 đã xác định: Toàn bộ số cục, bột màu trắng nghi heroine thu giữ của Lò Thị C có khối lượng là 0,31 gam, trích 0,1 gam gửi giám định.Tổng khối lượng 05 viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp là 0,5 gam, trích 0,2 gam gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 32/GĐ-PC09 ngày 31/10/2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ĐB đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Thị C là chất ma túy loại heroine.

Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lò Thị Chính gửi giám định là chất ma túy loại methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSĐB ngày 28/12/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Thị C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Lò Thị C từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết 326 Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND huyện Đ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.

.Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lò Thị C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Mọi lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.

.Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Lò Thị C là đối tượng nghiện chất ma túy bị cáo đã đi bộ từ nhà đội 15 xã Noong Hẹt, huyện Đ, đến đội 18, xã T, huyện Đ mục đích đi tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Bị cáo gặp một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 35 tuổi không biết tên và địa chỉ mua được 01 gói heroine, và 05 viên Methamphetamine với giá 450.000đ cất giấu rên tay trái chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trên người 0,31 gam heroine và 0,5 gam Methamphetamine. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và được thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp. Vật chứng thu giữ của bị cáo đã được cân xác định khối lượng là 0,31 gam heroine. và 0,5 gam Methamphetamine, kết luận giám định là heroine và Methamphetamine.

Hành vi tàng trữ 0,31 gam heroine và 0,5 gam Methamphetamine trên người mục đích để sử dụng của bị cáo. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015.Tổng khối lượng hai chất ma túy bị cáo tàng trữ là 0,81 gam được quy định tại cùng Điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015. Vì vậy hành vi tàng trữ hai chất ma túy có tổng khối lượng 0,81 gam của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015.

C¸o tr¹ng cña VKSND huyện Đ ®· truy tè bÞ c¸o lµ ®óng ng êi, ®óng téi, ®óng ph¸p luËt. BÞ c¸o cã ®Çy đủ n¨ng lùc ®Ó chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù tr íc ph¸p luËt vÒ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh ®· g©y ra.

. XÐt tÝnh chÊt møc ®é ph¹m téi cña bÞ c¸o th× hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý lµ hµnh vi nguy hiÓm cho x· héi, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng lµm ¶nh h ëng ®Õn trËt tù trÞ an, an toàn x· héi. Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o ®· x©m ph¹m ®Õn chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ n íc vÒ chÊt ma tuý. BÞ c¸o nhËn thøc ® îc t¸c h¹i cña ma tuý, nhËn thøc ® îc hµnh vi tàng trữ tr¸i phÐp chÊt ma tuý lµ vi ph¹m ph¸p luËt. Song vì nhu cầu của bản thân bÞ c¸o ®· bÊt chÊp vµ cè t×nh vi ph¹m. Nªn cÇn ph¶i xö lý bị cáo nghiêm minh theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho thấy:

Sinh ra và lớn lên tại huyện Điện Biên, bản thân học hết lớp 5/12 thì bỏ học năm 2003 xây dựng gia đình với Hoàng Văn H năm 2008 ly hôn đến năm 2016 nghiện ma túy. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS năm 2015.

HĐXX xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo và có thời gian cai nghiện ma túy.

. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. XÐt kinh tÕ bÞ c¸o khã kh¨n, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nªn kh«ng cã ®iÒu kiÖn ®Ó thi hµnh. Héi ®ång xÐt xö kh«ng ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi bÞ c¸o.

Đối với người đàn ông dân tộc Thái khoảng 35 tuổi bị cáo đã gặp tại đội 18 xã T theo bị cáo khai đã bán heroine và Methamphetamine cho bị cáo,do không biết tên và địa chỉ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.

. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng. Tịch thu tiêu huỷ 0,31 gam heroine đã trích 0,1 gam gửi giám định không hoàn lại và 0,5 gam Methamphetamine đã trích 0,2 gam gửi giám định không hoàn lại.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136/BLTTHS và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51/BLHS năm 2015.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Thị C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Xử phạt bị cáo 21 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ( 15/10/2018).

3. Vật chứng: Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015.

- Tịch thu tiêu huỷ 0,31 gam heroine đã trích 0,1 gam gửi giám định không hoàn lại. 0,5 gam Methamphetamine trích 0,2 gam gửi giám định không hoàn lại.

(Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên vào ngày 14/01/2019).

4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Thị Chính phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/01/2019).

Cỡ chữ