vanban.org

Bản án 03/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 07/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim H phạm tội ‘Tàng trữ trái phép chất ma túy"

Xử phạt: Nguyễn Thị Kim H 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Kim Hoàng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim H phạm tội ‘Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP ĐÀ NẴNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HSST
Ngày 07-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Nguyễn Phạm Hùng

2. Ông Ngô Văn Khanh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hồ Việt Công Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Trần Thị Ngọc Hương – Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 83/2025/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2025/QĐXXST-HS ngày 23/12/2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị Kim H; tên gọi khác: không; Sinh ngày: 21/9/1991, tại Đà Nẵng. Nơi ĐKHKTT: 105 N, tổ A phường H, Đà Nẵng; Chỗ ở hiện nay: 105 N, tổ A phường H, Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Nguyễn Đắc T (sinh năm: 1959), con bà Nguyễn Thị Kim T1 (sinh năm 1964); Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út. Bị cáo chưa có chồng con.

Tiền án, tiền sự: chưa Bị cáo hiện đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 108/2025 ngày 01/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng. Có mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm: 1964, Địa chỉ: A N, tổ A phường H, Đà Nẵng. có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 18 giờ 15phút ngày 17/7/2025, tại trước nhà số A N, phường H, thành phố Đà Nẵng, Công an phường H phối hợp với phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Đ tiến hành kiểm tra hành chính đối với xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ đen BKS 43C1-93744 do Nguyễn Thị Kim H điều khiển thì

- 1 - phát hiện trong hộc xe bên trái có 01 gói giấy, bên trong có 01 gói nylon kích thước khoảng 02x1,5cm chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy. Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 gói nylon kích thước khoảng 02x1,5cm chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu A); 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, gắn sim số 0762.582.034; 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ đen BKS 43C1-93744; 01 mảnh giấy ăn màu nâu. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Nguyễn Thị Kim H ở địa chỉ A N, phường H, thành phố Đà Nẵng tiếp tục thu giữ trên nền nhà trong phòng ngủ đầu tiên bên phải cầu thang ở tầng 2: 01 gói nylon kích thước khoảng 02x1,5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (ký hiệu B) (BL: 22-30).

Ngày 30/7/2025, Phòng K Công an thành phố Đ đã ban hành Kết luận giám định số 604/KL-KTHS xác định: Tinh thể màu trắng trong mẫu niêm phong ký hiệu A và B gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu A: 0,136 gam, mẫu B: 0, 053 gam (BL: 37-42).

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 16h00 ngày 17/7/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Thị Kim H đã sử dụng mạng xã hội Zalo liên hệ với một người (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá thì người này đồng ý và thỏa thuận giao dịch tại khu vực B thành phố Đà Nẵng. Hoàng dichuyển đến khu vực bến xe lấy ma túy và để lại tiền mặt 300.000 đồng ở vị trí được chỉ dẫn, không gặp mặt trực tiếp đối tượng này. Sau đó, H đem số ma túy vừa mua về nhà và chia làm 02 phần: 01 phần được bỏ trong gói nylon cất giấu ở trong phòng ngủ để sau này sử dụng, 01 phần được bỏ trong gói nylon cất giấu ở hộc bên trái xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ đen BKS 43C1-93744 rồi H điều khiển xe đi tìm nơi để sử dụng. Trên đường điều khiển xe, đến đoạn trước nhà số A N thì bị Công an kiểm tra và phát hiện ma túy như đã nêu. Toàn bộ dữ liệu liên hệ qua zalo H đã xóa ngay sau đó nên không thu thập được.

Tang vật thu giữ:

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ đen BKS 43C1-93744: Quá trình điều tra xác định xe này thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Kim T1 (Sinh năm 1964, trú tại tổ A, phường H, thành phố Đà Nẵng) – là mẹ ruột của H. Quá trình điều tra xác định bà T1 không biết về việc H sử dụng xe này để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, ngày 17/7/2025, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại chiếc xe trên cho bà T1 là có cơ sở.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, gắn sim số 0762.582.034, 01 mảnh giấy ăn màu nâu và mẫu ma túy hoàn trả sau giám định: Các tang vật này được chuyển sang Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Đà Nẵng để tiếp tục tạm giữ, chờ xử lý.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng số: 28/CT-VKSKV4 ngày 28/11/2025

- 2 - và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Thị Kim H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 38, Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Thị Kim H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị HĐXX tuyên.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bì thư giấy dán kín và dán băng keo bên ngoài có ký hiệu mẫu A và bao gói mẫu A, mẫu B theo quyết định trưng cầu giám định số 5993/QĐ-CSĐT ngày 21/7/2025 và biên bản đóng gói niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 22/7/2025, khối lượng còn lại sau giám định 01 gói ni lông chứa 0,073gam mẫu ký hiệu A và toàn bộ vỏ bao gói mẫu A và mẫu B (mẫu tinh thể B không hoàưn trả)

-01 mảnh giấy ăn màu nâu

- 01 sim số điện thoại 0762.582.034 của Nguyễn Thị Kim H

Đây là tang vật, phương tiện mà bị cáo liên hệ để mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

-01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen của Nguyễn Thị Kim H

Vật chứng hiện do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Đà Nẵng quản lý theo biên bản giao nhận ngày 09/12/2025

- Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo:

Bị cáo H nhận thức hành vi của mình là sai và rất hối hận về hành vi của mình bị cáo hiện nay bị rất nhiều bệnh tim bẩm sinh độ 3, trào ngược dạ dày thực quản, tăng áp phổi nặng, đa hồng cầu xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội chữa bệnh. Bị cáo hứa sẽ không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

- 3 -

Vào khoảng 18 giờ ngày 17/7/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Thị Kim H đã liên hệ với một người (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) và mua 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 18h15 cùng ngày, khi H đang trên đường đi tìm địa điểm để sử dụng ma túy thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Tổng khối lượng ma túy mà H phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,189 gam Methamphetamine. Hành vi của H đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Do đó cáo trạng số: 85/CT-VKSLC ngày 28/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Ma tuý hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, lao động, học tập của con người và là nguyên nhân của các tội phạm khác như: Trộm cắp, cướp giật, giết người ... làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tuyên truyền, quán triệt sâu rộng trong nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Bị cáo nhận thức rõ được những tác hại đó nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, xem thường pháp luật nên đã thực hiện việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi phạm tội trên là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý không những xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, gây bất ổn trong nhân dân trên địa bàn Tp Đà Nẵng do đó cần xử lý thật nghiêm.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, đây là lần đầu bị cáo phạm tội, bản thân bị cáo hiện bị bệnh rất nhiều bệnh tim bẩm sinh độ 3, tăng áp phổi nặng – đa hồng cầu/hội chứng Eisenmenger (Q25.0), trào ngược dạ dày thực quản (K21), gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của địa phương do đó đủ cơ sở áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo xét thấy cần phải cách ly ra khỏi cộng đồng một thời gian mới đủ sức răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hiện bị nhiều bệnh, không có công việc, không có tài sản nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bì thư giấy dán kín và dán băng keo bên ngoài có ký hiệu mẫu A và bao gói mẫu A, mẫu B theo quyết định trưng cầu giám định số 5993/QĐ-CSĐT ngày 21/7/2025 và biên bản đóng gói niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 22/7/2025, khối lượng còn lại sau giám định 01 gói ni lông chứa 0,073gam mẫu ký hiệu A và toàn bộ vỏ bao gói mẫu A và mẫu B (mẫu tinh thể B không hoàn trả)

- 4 -

-01 mảnh giấy ăn màu nâu

- 01 sim số điện thoại 0762.582.034 của Nguyễn Thị Kim H

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

-01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen của Nguyễn Thị Kim H

Đây là tang vật, phương tiện mà bị cáo liên hệ để mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng hiện do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Đà Nẵng quản lý theo biên bản giao nhận ngày 09/12/2025

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho H đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau là có cơ sở.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ đen BKS 43C1-93744: Quá trình điều tra xác định xe này thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Kim T1 (Sinh năm 1964, trú tại tổ A, phường H, thành phố Đà Nẵng) là mẹ ruột của H. Quá trình điều tra xác định bà T1 không biết về việc H sử dụng xe này để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, ngày 17/7/2025, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và trả lại chiếc xe trên cho bà T1 là có cơ sở.

Khi giao xe cho H sử dụng, bà T1 không biết việc H thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.

Án phí HSST: bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Đà Nẵng phù hợp với hướng nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim H phạm tội ‘Tàng trữ trái phép chất ma túy"

- Căn cứ điểm c khoản 1Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị Kim H 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 bì thư giấy dán kín và dán băng keo bên ngoài có ký hiệu mẫu A và bao gói mẫu A, mẫu B theo quyết định trưng cầu giám định số 5993/QĐ-CSĐT ngày 21/7/2025 và biên bản đóng gói niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định ngày 22/7/2025, khối lượng còn lại sau giám định 01 gói ni lông chứa 0,073gam mẫu ký hiệu A và toàn bộ vỏ bao gói mẫu A và mẫu B (mẫu tinh thể B không hoàưn trả)

-01 mảnh giấy ăn màu nâu

- 01 sim số điện thoại 0762.582.034 của Nguyễn Thị Kim H

Đây là tang vật, phương tiện mà bị cáo liên hệ để mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.

- 5 -

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

-01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen của Nguyễn Thị Kim H

Vật chứng hiện do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Đà Nẵng quản lý theo biên bản giao nhận ngày 09/12/2025

3. Án phí HSST: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng.

4. Án xử công khai, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

Cỡ chữ