vanban.org

Bản án 03/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật, tội danh và hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Võ Thị X số tiền 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T1 số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị X+ĐP_danh bac - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 03/2026/HS-ST
Ngày: 06-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Thanh Thà.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chon;

2. Ông Nguyễn Ngọc Long.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 334/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 390/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Võ Thị X (tên gọi khác: Ú), sinh năm 1967, tại Thành phố Hồ Chí Minh; căn cước công dân: 079167033477, cấp ngày 12/8/2021; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C đường S, Ấp E, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh); chỗ ở: Số C đường S, Ấp E, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn C, sinh năm 1933 (đã chết) và bà Võ Thị T, sinh năm 1938 (đã chết), bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn L, sinh năm 1961 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2000; anh chị em ruột 04 người kể cả bị cáo.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/5/2025 đến ngày 06/5/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965, tại tỉnh Quảng Ngãi; căn cước công dân: 079165037721, cấp ngày 10/8/2021; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A T, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh); chỗ ở: Số A N, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn T2, sinh năm 1936 (đã chết) và bà Bùi Thị G, sinh năm 1935 (đã chết), bị cáo có chồng tên Trần Thanh N, sinh năm 1967 và có 02 người con lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1999; anh chị em ruột gồm 05 người kể cả các bị cáo.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/5/2025 đến ngày 06/5/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Lâm Ngọc H, sinh năm 1999 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số A Đường A, Ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Ông Trần Minh B, sinh năm 1998 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Bà Phạm Thị Thanh L1, sinh năm 1973 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số A đường N, Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 45 phút ngày 29/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H phối hợp với Công an xã B, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính trước Khu công nghiệp Đ thuộc Ấp C, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra phát hiện điện thoại di động của Trần Minh B, Lâm Ngọc H trong ứng dụng Zalo có nội dung tin nhắn mua số đề của Võ Thị X vào ngày 29/4/2025. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiến hành kiểm tra điện thoại di động của Võ Thị X trong ứng dụng Zalo phát hiện tin nhắn có nội dung Xuyến bán số đề cho Trần Minh B, Lâm Ngọc H, Phạm Thị Thanh L1, Nguyễn Thị T1 và nội dung X chuyển số đề đã bán được giao cho Trần Ngọc P vào ngày 28/4/2025, ngày 29/4/2025.

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Võ Thị X đã bắt đầu ghi bán số đề thắng thua bằng tiền cho các con bạc vào khoảng cuối tháng 3/2025 rồi giao lại cho Trần Ngọc P để lấy tiền hoa hồng.

Hình thức đánh bạc (mua bán số lô đề) như sau: Võ Thị X sử dụng điện thoại di động hiệu Redmi Note 14 đăng ký tài khoản Zalo số 0706931887, tên tài khoản “Tigon Nguyen” để bán số đề bằng hình thức nhắn tin qua ứng dụng Zalo. Các con bạc nhắn tin mua số đề qua Zalo cho X và chuyển khoản tiền mua số đề qua tài khoản số 0938138263 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (M), chủ tài khoản Võ Thị X.

Khi nhận được tin nhắn mua số đề và tiền phơi đề, X nhắn tin “Ok” nghĩa là đồng ý bán số đề cho các con bạc. Theo thỏa thuận, X tổng hợp số đề đã bán trong ngày giao lại cho Trần Ngọc P có tài khoản Zalo tên “Cô Y”, sau đó chuyển tiền đã bán số đề qua tài khoản số 0251001052695 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (V), chủ tài khoản Trần Ngọc P. Kết quả thắng thua, X thanh toán bằng hình thức chuyển khoản hoặc các con bạc trực tiếp đến nhà X nhận tiền mặt. Theo thỏa thuận về việc hưởng hoa hồng, P thỏa thuận giao cho X tỷ lệ thắng thua 1.000 đồng trúng 75.000 đồng đối với 02 con số, trúng 650.000 đồng đối với 03 con số. Còn X trả cho các con bạc 1.000 đồng trúng 72.000 đồng đối với 02 con số, trúng 600.000 đồng đối với 03 con số, trúng 500.000 đồng đối với đá 2 con số, trường hợp các con bạc không trúng, X được hưởng phí hoa hồng là 20.000 đồng trên 1.000.000 đồng tiền ghi số đề. Qua hoạt động ghi bán số đề hàng ngày, X thu lợi bất chính khoảng 100.000 đồng/ngày, để tiêu xài cá nhân.

Đối với Đ xổ số kiến thiết miền N:

Ngày 24/4/2025, Võ Thị X đã bán số đề cho Lâm Ngọc H gồm đài An Giang với tổng tiền phơi là 1.026.000 đồng, đài T tổng tiền phơi 1.026.000 đồng, kết quả không trúng. Ngoài ra, X bán số đề cho các đối tượng không rõ lai lịch với tổng số tiền trên phơi là 2.880.000 đồng, tiền trúng 2.880.000 đồng. Ngày 24/4/2025, tổng tiền phơi là 4.932.000 đồng, số tiền trúng là 2.880.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 7.812.000 đồng.

Ngày 27/4/2025, X đã bán số đề cho Lâm Ngọc H tổng tiền phơi đài Tiền Giang 949.000 đồng, tiền trúng 1.080.000 đồng; đài Kiên Giang tiền phơi 805.000 đồng, không trúng. Xuyến bán cho T1 tiền phơi đài Kiên Giang 3.600.000 đồng, không trúng. Tiền Giang tổng tiền phơi 3.600.000 đồng, không trúng. Ngày 27/4/2025, tổng tiền phơi là 8.954.000 đồng, số tiền trúng là 1.080.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 10.034.000 đồng.

Ngày 28/4/2025, X đã bán số đề cho Lâm Ngọc H đài Thành phố Hồ Chí Minh tổng tiền phơi: 530.000 đồng, không trúng. Đồng Tháp tổng tiền phơi: 530.000 đồng, không trúng. Ngày 28/4/2025 X bán số đề cho Phạm Thị Thanh L1 với các đài tổng tiền phơi: 215.000 đồng, không trúng; đài Đồng Tháp tổng tiền phơi: 215.000 đồng, không trúng. Ngày 28/4/2025 X bán số đề cho Nguyễn Thị T1 với đài Thành phố Hồ Chí Minh tổng tiền phơi: 3.600.000 đồng, không trúng thưởng; đài Đồng Tháp tổng tiền phơi: 3.600.000 đồng, không trúng. Tổng ngày 28/4/2025, tiền phơi là 8.690.000 đồng, kết quả không trúng.

Ngày 29/4/2025, X đã bán số đề cho Lâm Ngọc H với đài Bến T3 tổng tiền phơi: 654.000 đồng, không trúng. Đài V tổng tiền phơi: 654.000 đồng, tiền trúng: 1.080.000 đồng. Tổng tiền: 1.734.000 đồng. Xuyến bán số đề cho Phạm Thị Thanh L1 đài Bến Tre tổng tiền phơi: 996.000 đồng, tiền trúng: 1.432.000 đồng. Tổng tiền: 2.428.000 đồng. Đài V tổng tiền phơi: 762.000 đồng, tiền trúng: 432.000 đồng. Tổng tiền: 1.194.000 đồng. Xuyến bán số đề cho Nguyễn Thị T1 đài Bến tre tổng tiền phơi: 3.600.000 đồng, tiền trúng: 14.400.000 đồng. Tổng tiền: 18.000.000 đồng; đài V1 tổng tiền phơi: 3.600.000 đồng, tiền trúng: 7.200.000 đồng. Tổng tiền: 10.800.000 đồng. Trong ngày 29/4/2025, tổng tiền phơi là 10.266.000 đồng, số tiền trúng là 24.544.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 34.810.000 đồng.

Đối với Đài xổ số kiến thiết miền B:

Ngày 04/4/2025, Võ Thị X đã bán số đề cho Nguyễn Thị T1 đài Miền Bắc tổng tiền phơi: 3.240.000 đồng, tiền trúng: 3.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 6.840.000 đồng.

Ngày 26/4/2025, X đã bán số đề cho Lâm Ngọc H tổng tiền phơi: 1.638.000 đồng, không trúng. Xuyến bán số đề cho Nguyễn Thị T1 đài Miền Bắc tổng tiền phơi: 4.050.000 đồng, không trúng. Ngày 26/4/2025, tổng tiền phơi là 5.688.000 đồng. Kết quả không trúng.

Ngày 28/4/2025, X đã bán số đề cho H tổng tiền phơi: 1.531.000 đồng, không trúng. Xuyến bán số đề cho L1 tổng tiền phơi: 430.000 đồng, tiền trúng: 600.000 đồng. Tổng tiền: 1.030.000 đồng. Xuyến bán số đề cho T1 tổng tiền phơi 4.050.000 đồng, không trúng. Ngày 28/4/2025, tổng tiền phơi là 6.011.000 đồng, số tiền trúng là 600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 6.611.000 đồng.

Ngày 29/4/2025, X đã bán số đề cho B tổng tiền phơi: 1.890.000 đồng, tiền trúng 1.080.000 đồng. Tổng tiền : 2.970.000 đồng. Xuyến bán số đề cho H tổng tiền phơi 1.402.000 đồng, tiền trúng: 360.000 đồng. Tổng tiền: 1.762.000 đồng. Xuyến bán số đề cho L1 tổng số tiền phơi 1.512.000 đồng, không trúng. Xuyến bán số đề cho T1 tổng tiền phơi: 1.350.000 đồng, không trúng. Ngày 29/04/2025, tổng tiền phơi là 6.154.000 đồng, số tiền trúng là 1.440.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 7.594.000 đồng.

Đối với Nguyễn Thị T1 đã bắt đầu mua số đề của Võ Thị X vào khoảng cuối tháng 3/2025 tại nhà số A N, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh để có tiền tiêu xài cá nhân. Thường đã sử dụng điện thoại di động hiệu S 10 Lite đăng ký Zalo số 0932763398, tên tài khoản “Nguyễn Thị T1” để mua số đề bằng hình thức nhắn tin qua Zalo cho X. Với cách thức chơi trên, T1 đã mua số đề của Xuyến cụ thể:

Ngày 04/4/2025, T1 đã mua số đề của X với tiền phơi đề xổ số kiến thiết Miền Bắc là 3.240.000 đồng, số tiền trúng là 3.600.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 6.840.000 đồng.

Ngày 27/4/2025, T1 đã mua số đề của Xuyến với tổng tiền trên phơi đề xổ số kiến thiết miền N (Tiền Giang, Kiên Giang) là 7.200.000 đồng, kết quả không trúng. Đài T tổng tiền phơi: 3.600.000 đồng, không trúng. Đài K tổng tiền phơi: 3.600.000 đồng, không trúng.

Ngày 28/4/2025, T1 đã mua số đề của Xuyến với tổng tiền trên phơi đề xổ số kiến thiết miền N (Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp) là 7.200.000 đồng. Kết quả không trúng.

Ngày 29/4/2025 với tổng tiền trên phơi đề xổ số kiến thiết miền N (Bến Tre, Vũng Tàu) là 7.200.000 đồng, số tiền trúng là 21.600.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 28.800.000 đồng. Thường chưa chuyển tiền phơi đề và cũng chưa nhận tiền trúng thưởng từ X thì bị bắt.

Vật chứng thu giữ:

1. Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Điện thoại di động hiệu S 10 Lite, số Imei 1: 355045113107052; số Imei 2: 355046113107050, có sim: 0932763398, tạm giữ của Nguyễn Thị T1.

2. Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Điện thoại di động hiệu Vivo V2022-128GB, số Imei 1: 864215058405431; số Imei 2: 864215058405423, có sim số: 0867527064, tạm giữ của Trần Minh B.

3. Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Một điện thoại di động hiệu Redmi Note 14-128GB, số Imei 1: 864129073272447/06; số Imei 2: 864129073272454/06, có sim số: 0706931887, tạm giữ của Võ Thị X.

4. Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Điện thoại di động hiệu S A50, số Imei 1: 356646103093605; số Imei 2: 356647103093603, có sim số: 0347017476, tạm giữ của Phạm Thị Thanh L1.

5. Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Một điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus-64GB, số Imei: 354830099607915, có sim số: 0828888326, tạm giữ của Lâm Ngọc H.

Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKSKV8 ngày 05/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử Võ Thị X và Nguyễn Thị T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ cụ thể: Trong các ngày từ 04/4/2025 đến 29/4/2025, tại Ấp C, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Võ Thị X đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề nhiều lần cho Nguyễn Thị T1, Trần Minh B, Lâm Ngọc H, Phạm Thị Thanh L1 và các con bạc không rõ lai lịch qua tài khoản Zalo với tổng số tiền đánh bạc là 88.079.000 đồng. Trong đó, số tiền đánh bạc theo kết quả xổ số kiến thiết miền N 04 lần là 61.346.000 đồng và miền B 04 lần là 26.733.000 đồng.

Trong các ngày từ 04/4/2025 đến 29/4/2025, tại nhà số A N, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Thị T1 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề của bị cáo Võ Thị X nhiều lần qua tài khoản Zalo với tổng số tiền đánh bạc là 50.040.000 đồng. Trong đó, số tiền đánh bạc theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền N là 43.200.000 đồng và miền B là 6.840.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Thị X số tiền từ 70.000.000 đến 90.000.000 đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 số tiền từ 50.000.000 đến 70.000.000 đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước.

Đề nghị Hội đồng xét xử truy số tiền thu lợi bất chính đối với bị cáo Võ Thị X 3.000.000 đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định.

Các bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử khoan hồng xử mức án nhẹ cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị X và Nguyễn Thị T1 đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ cụ thể: Từ ngày 04/4/2025 đến 29/4/2025, tại Ấp C, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Võ Thị X đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề nhiều lần cho Nguyễn Thị T1, Trần Minh B, Lâm Ngọc H, Phạm Thị Thanh L1 và các con bạc không rõ lai lịch qua tài khoản Zalo với tổng số tiền đánh bạc là 88.079.000 đồng. Số tiền đánh bạc theo kết quả xổ số kiến thiết miền N là 61.346.000 đồng; miền B là 26.733.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thị T1 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề của bị cáo Võ Thị X nhiều lần qua tài khoản Zalo với tổng số tiền đánh bạc là 50.040.000 đồng. Trong đó, số tiền đánh bạc theo kết quả xổ số kiến thiết đài miền N là 43.200.000 đồng và miền B là 6.840.000 đồng. Bằng hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Thị X và Nguyễn Thị Thường phạm T4 “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đánh giá tính chất, mức độ tham gia, vai trò của các bị cáo:

Các bị cáo đánh bạc bằng hình thức mua bán các số lô, số đề được thắng thua bằng tiền. Do đó, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm nếp sống văn minh của xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo đã thực hiện mới đủ tác dụng trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình, cần xem xét đến nhân thân, những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

Trong vụ án này, bị cáo Võ Thị X là người có vai trò ghi đề cho bị cáo Nguyễn Thị T1 và các con bạc khác tham gia đánh bạc và chuyển phơi cho Trần Ngọc P để hưởng tiền hoa hồng nên bị cáo Võ Thị X phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Nguyễn Thị T1 là phù hợp.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Võ Thị X:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị T1:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, bị cáo đang điều trị căn bệnh đái tháo đường típ 2, tăng huyết áp, rối loạn Lipid máu, viêm thần kinh tọa biên, rối loạn giấc ngủ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy, các bị cáo Võ Thị X và bị cáo Nguyễn Thị T1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của địa phương, chấp hành tốt lệnh triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng, các bị cáo đều là người đã lớn tuổi, bị cáo Nguyễn Thị T1 cần điều trị bệnh lấy thuốc thường xuyên, liên tục, các bị cáo có khả năng tự cải tạo bản thân và nếu không buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 phạt tiền cũng đủ phát huy tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam, giúp bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, số tiền các bị cáo thu lợi không lớn nên không phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Điện thoại di động hiệu S 10 Lite, số Imei 1: 355045113107052; số Imei 2: 355046113107050, có sim: 0932763398, tạm giữ của Nguyễn Thị T1 sử dụng vào hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Điện thoại di động hiệu Vivo V2022-128GB, số Imei 1: 864215058405431; số Imei 2: 864215058405423, có sim số: 0867527064, tạm giữ của Trần Minh B. Mặc dù, Trần Minh B không bị khởi tố nhưng điện thoại sử dụng vào hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Một điện thoại di động hiệu Redmi Note 14-128GB, số Imei 1: 864129073272447/06; số Imei 2: 864129073272454/06, có sim số: 0706931887, tạm giữ của Võ Thị X sử dụng vào hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Điện thoại di động hiệu S A50, số Imei 1: 356646103093605; số Imei 2: 356647103093603, có sim số: 0347017476, tạm giữ của Phạm Thị Thanh L1. Mặc dù, Phạm Thị Thanh L1 không bị khởi tố nhưng điện thoại sử dụng vào hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

- Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Một điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus-64GB, số Imei: 354830099607915, có sim số: 0828888326, tạm giữ của Lâm Ngọc H. Mặc dù, Lâm Ngọc H không bị khởi tố nhưng điện thoại sử dụng vào hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị X khai nhận trong thời gian bán số đề bị cáo thu lợi bất chính khoảng 3.000.000 đồng, bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền này. Hội đồng xét xử ghi nhận và truy thu tiền thu lợi bất chính đối với bị cáo Võ Thị X.

Đối với hành vi của Lâm Ngọc H, Trần Minh B, Phạm Thị Thanh L1 có dấu hiệu của tội đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H chuyển hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

Đối với Trần Ngọc P có hành vi nhận thầu đề từ bị cáo Võ Thị X nhưng chưa làm việc được. Cơ quan điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định tách vụ án đối với Trần Ngọc P để tiếp tục điều tra, xác minh, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí, Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965 là người cao tuổi, bị cáo có đơn xin miễn án phí nên được thuộc trường hợp được miễn nộp án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật, tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Võ Thị X số tiền 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T1 số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước gồm:

- Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Điện thoại di động hiệu S 10 Lite, số Imei 1: 355045113107052; số Imei 2: 355046113107050, có sim: 0932763398, tạm giữ của Nguyễn Thị T1.

- Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Điện thoại di động hiệu Vivo V2022-128GB, số Imei 1: 864215058405431; số Imei 2: 864215058405423, có sim số: 0867527064, tạm giữ của Trần Minh B.

- Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Một điện thoại di động hiệu Redmi Note 14-128GB, số Imei 1: 864129073272447/06; số Imei 2: 864129073272454/06, có sim số: 0706931887, tạm giữ của Võ Thị X.

- Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Điện thoại di động hiệu S A50, số Imei 1: 356646103093605; số Imei 2: 356647103093603, có sim số: 0347017476, tạm giữ của Phạm Thị Thanh L1.

- Điện thoại di động, số lượng: 1 chiếc; đặc điểm: Một điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus-64GB, số Imei: 354830099607915, có sim số: 0828888326, tạm giữ của Lâm Ngọc H.

Truy thu tiền thu lợi bất chính đối với bị cáo Võ Thị X 3.000.000 (Ba triệu) đồng, nộp vào ngân sách Nhà nước.

Các vật chứng trên được liệt kê tại Phiếu nhập kho vật chứng số 212/PNK ngày 10/7/2025 và Lệnh nhập kho vật chứng số G1422/LNK-CSHS ngày 27/6/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Võ Thị X phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965.

3. Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo:

Căn cứ Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ