vanban.org

Bản án 03/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Văn Thảo - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

KHU VỰC 7 - HƯNG YÊN
Bản án số: 03/2026/HS-ST
Ngày 06/01/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Lê Kiên Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Sang.

2. Bà Phạm Hồng Thiêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực

7 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên tham gia phiên

tòa: Bà Vũ Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng

Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST- HS ngày 10 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Đoàn Văn Th, sinh ngày 01/12/1993 tại xã Thái Thuỵ, tỉnh Hưng Yên; Căn

cước công dân số: 034093008693, cấp ngày: 17/02/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Nơi cư trú: Thôn Th, xã Thái Thụy, tỉnh Hưng Yên; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn Nh, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1960; Có vợ là Dương Thị Thanh T, sinh năm 1991 và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2025; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ từ ngày 11/9/2025 đến ngày 17/9/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh Hưng Yên (có mặt tại phiên tòa).

* Người chứng kiến:

- Anh Phạm Văn Ch, sinh năm 1983 (vắng mặt).

- Ông Phan Thanh Đ, sinh năm 1969 (vắng mặt).

Đều trú tại: Thôn T C, xã Bắc Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 12 giờ 40 phút ngày 11/9/2025,

Th đi bộ từ nhà ra trục đường xã đi xe ôm của người không quen biết đến đoạn đường đê gần cầu sông Hóa 2, thuộc địa phận xã Bắc Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, Th gặp và mua được 01 túi ma túy loại Methamphetamine của một người đàn ông, không biết tên, tuổi địa chỉ với giá 500.000 đồng. Th cất giấu túi ma tuý vào trong túi quần phía trước bên trái, rồi đi nhờ xe về đến đoạn đường Quốc lộ 37, đoạn thuộc địa phận thôn Tứ Cường, xã Bắc Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên lúc khoảng 14 giờ cùng ngày, Th xuống xe đi bộ thì bị tổ công tác của Công an xã Bắc Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên làm nhiệm vụ tuần tra nghi vấn Th có liên quan đến ma tuý nên yêu cầu Th dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của anh Phạm Văn Ch và ông Phan Thanh Đoàn, đều trú tại thôn Tứ Cường, xã Bắc Thụy Anh. Th tự giác lấy từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc giao nộp 01 túi nilon trong suốt có mép gờ cài màu đỏ, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt và khai nhận đó là 01 gói ma túy loại Methamphetamine của Th mua về để sử dụng. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hưng Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Th, không thu giữ gì.

- Bản kết luận giám định số 1214/KL- KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1894 gam (Không phẩy một nghìn tám trăm chín mươi tư gam)

* Bản cáo trạng số 56/CT-VKSKV7 ngày 09 tháng 12 năm 2025 của Viện

kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên truy tố Đoàn Văn Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; sửa đổi, bổ sung năm 2025.

- Tại phiên tòa: Bị cáo Đoàn Văn Th thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của bản thân như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên đã truy tố. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

- Tại Cơ quan điều tra, người chứng kiến là anh Phạm Văn Ch và Phan

Thanh Đoàn khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 11/9/2025, tại Quốc lộ 37, đoạn thuộc địa phận thôn Tứ Cường, xã Bắc Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên, các ông đã chứng kiến việc Công an xã Bắc Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên kiểm tra thu giữ tại túi quần bên trái phía trước của Đoàn Văn Th đang mặc 01 túi nilon trong suốt có mép gờ cài màu đỏ, bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt. Th khai là Methamphetamine Th mua của một người đàn ông, không biết tên, tuổi địa chỉ tại đoạn đường đê gần cầu sông Hóa 2, thuộc địa phận xã Bắc Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên với giá 500.000 đồng, mua về để sử dụng cho bản thân.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên giữ quyền công tố

tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Đoàn Văn Th và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái

phép chất ma tuý”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249

Bộ luật Hình sự; sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2017.

Xử phạt bị cáo Th từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày

bắt tạm giữ 11/9/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm

a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine thu giữ của Đoàn Văn Th được

hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 1214/KL- KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên.

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn về hành vi phạm tội của bản thân,

mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh

Hưng Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù

hợp với chính lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 14 giờ 15 phút ngày 11/9/2025 tại trụ sở Công an xã Bắc Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu do Công an xã Bắc Thụy Anh lập hồi 15 giờ 15 phút ngày 11/9/2025; Bản kết luận giám định số 1214/KL- KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên; Lời khai của những người chứng kiến anh Phạm Văn Ch và ông Phan Thanh Đoàn; Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 11/9/2025,

tại Quốc lộ 37, đoạn thuộc thôn Tứ Cường, xã Bắc Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên. Công an xã Bắc Thụy Anh, tỉnh Hưng Yên bắt quả tang Đoàn Văn Th có hành vi tàng trữ trái phép tại túi quần bên trái phía trước đang mặc 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1897 gam. Mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Th được thực hiện vào ngày 11/9/2025, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự thì Th đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; sửa đổi, bổ sung năm 2025 như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên đã truy tố.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua

bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

a) …

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine,

Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000

đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành

vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, là nguyên nhân làm phát sinh và gia tăng các loại tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Hậu quả mà bị cáo gây ra phải chịu sự trừng trị của pháp luật, đây là bài học cho bị cáo và những người mắc nghiện ma túy, phạm các tội về ma túy.

Khi quyết định hình phạt, xét thấy:

- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo

được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, tình

tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định mức án tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và để giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng cho bản

thân; Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn; Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là

vật Nhà nước cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số ma tuý:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người bán ma túy

cho bị cáo là ai, do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp

luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật

định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; sửa đổi, bổ sung năm

2025; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2017.

Xử phạt: Đoàn Văn Th 03 (ba) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ

11/9/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine thu giữ của Đoàn Văn

Th được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 1214/KL- KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên

(Vật chứng trên đã được bàn giao sang Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7,

tỉnh Hưng Yên ngày 10/12/2025).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;

Bị cáo Đoàn Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn

15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ