vanban.org

Bản án 03/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 12/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B cho Ủy ban nhân dân phường D, tỉnh Gia Lai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách (nơi thường trú). Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Gia Bảo - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH GIA LAI
Bản án số: 03/2026/ HS-ST
Ngày: 12/01/2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI

- Thành phần Hô ̣i đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngà;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Lý và bà Lê Thị Toan;

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Thị Lệ Quyên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Hoá - Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 01 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2025/TLST- HS, ngày 12 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2025/QĐXXST-HS ngày 24/12/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng Gia B; giới tính: Nam; sinh ngày 12/4/2006; tại: Gia Lai; CCCD số: 064206007811 cấp ngày 10/5/2021, nơi cấp: Cục C06 Bộ C; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: 92A đường Đ, tổ C Y, phường D, tỉnh Gia Lai; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1968 và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Ông Lê Hồng Â, sinh năm 1945; địa chỉ: C T, phường T, tỉnh Gia Lai (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp theo hàng thừa kế thứ nhất của bị hại Lê Hồng Â, gồm có: Anh Lê Hồng T1, sinh năm: 1980; địa chỉ: Tổ B, phường T, tỉnh Gia Lai và anh Lê Hồng T2, sinh năm: 1987; địa chỉ: C T, phường T, tỉnh Gia Lai. Tất cả đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975; địa chỉ: Số I đường Đ, tổ C Y, phường D, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

+ Chị Trần Khánh P, sinh ngày 09/10/2007; địa chỉ: Hẻm D đường L, tổ A Y, phường D, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng Gia B là người đã được cấp Giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định. Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 30/6/2025, B điều khiển xe mô tô biển số 81B2-942.05 chở chị Trần Khánh P (sinh ngày 09/10/2007, trú Tổ A Y, phường D, tỉnh Gia Lai) lưu thông trên đường P, theo hướng từ phường P đi phường T, tỉnh Gia Lai; B sử dụng đèn chiếu sáng phía trước, điều khiển xe mô tô 81B2-942.05 đi ở làn đường trong cùng bên phải theo hướng lưu thông (làn đường dành cho xe mô tô, xe máy, xe thô sơ), với tốc độ khoảng 30-35 km/h; đường Phạm Văn Đ có điện đường chiếu sáng. Cùng lúc này, trên làn đường mà B đang lưu thông có ông Lê Hồng  (sinh năm 1945, trú số C đường T, phường T, tỉnh Gia Lai) đang đi bộ cùng chiều phía trước. B khai: Khi qua khỏi đường rẽ vào Chợ T, B quan sát phía trước nhưng do điện đường bị loá nên không nhìn thấy ông  đang đi bộ cùng làn đường với mình; đường Phạm Văn Đồng lúc này vắng người và phương tiện lưu thông. B không tiếp tục tập trung quan sát phía trước mà quay mặt sang bên trái để nói chuyện với chị P. Khi đi đến đoạn trước số nhà B đường P, thuộc Tổ D T, phường T, tỉnh Gia Lai, thì xe mô tô 81B2-942.05 đi đến gần ông Â. Lúc này khoảng 20 giờ 23 phút cùng ngày, B quay mặt lại thì nhìn thấy ông  nên điều khiển xe mô tô lách sang trái để tránh, nhưng do khoảng cách gần nên không tránh kịp. Xe mô tô 81B2-942.05 va chạm vào người ông Â, làm ông  ngã xuống mặt đường; xe mô tô 81B2-942.05 ngã về bên trái, trượt một đoạn khoảng 10 mét thì dừng lại. B và chị P chỉ bị xây xát nhẹ; ông  bị thương nặng, được người dân đưa đến Bệnh viện H cấp cứu. Sau khi nhận được thông tin về vụ tai nạn, lực lượng Cảnh sát giao thông và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã tiến hành khám nghiệm hiện trường theo quy định, tạm giữ xe mô tô biển số 81B2-942.05 để điều tra, làm rõ. Cơ quan điều tra trích xuất camera quan sát của Công ty cổ phần I, thu giữ 01 đoạn video clip ghi lại diễn biến vụ tai nạn. Lực lượng Cảnh sát giao thông tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với B, thì xác định B không có nồng độ cồn trong khí thở.

Do bị thương nặng, nên đến ngày 04/7/2025 ông Lê Hồng  tử vong. Qua giám định, Phòng K Công an tỉnh G, kết luận ông  tử vong là do: “Chấn thương sọ não”. Đối với chị Trần Khánh P, chỉ bị xây xát nhẹ nên từ chối giám định tổn thương cơ thể và không có yêu cầu, đề nghị gì đối với vụ tai nạn giao thông.

Qua khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, xác định:

Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn trước số B đường P, phường T, tỉnh Gia Lai; mặt đường được trải bê tông nhựa. Lấy mép đường phải hướng từ ngã ba Hoa Lư đi ngã tư Y, phường T, tỉnh Gia Lai làm chuẩn đo, vẽ, xác định: Đoạn đường có giải phân cách cứng, áp dụng lưu thông 01 chiều; mặt đường rộng 10,5m và được chia thành 03 làn đường (làn xe ô tô; làn xe ô tô và xe mô tô; làn xe mô tô, xe gắn máy, xe thô sơ), có vạch kẻ đường đứt đoạn.

Trên mặt đường ở làn xe mô tô, xe gắn máy, xe thô sơ có vết cày (01) trượt trên mặt đường hướng từ ngã ba Hoa Lư đi ngã tư Y dài 10,4m, rộng 0,5m; đầu vết cách mép đường chuẩn 1,78m, cuối vết cày cách mép đường chuẩn 01m (trùng với gác để chân trước bên trái xe mô tô biển số 81B2-942.05). Đầu vết cày (01) hướng về ngã tư Y 6,3m có vết màu nâu (nghi máu) tiếp giáp với mép đường chuẩn, diện (0,4x0,4)m. Xe mô tô biển số 81B2-942.05 nằm ngã nghiêng bên trái; đầu quay về hướng ngã ba Hoa Lư, đuôi quay về hướng ngã tư Y; tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 1,3m; tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 0,6m.

Qua khám nghiệm các dấu vết liên quan đến tai nạn trên xe mô tô biển số 81B2-942.05, xác định:

Mặt trước chân đế gương chiếu hậu bên trái có vết trầy xước mài mòn kim loại, chiều hướng từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, diện (2x1)cm; đầu tay thắng bên trái có vết trầy xước, mài mòn kim loại, diện (1x1)cm; tại vị trí mặt ngoài yếm bên trái có vết trầy xước, mài mòn nhựa, chiều hướng từ trước ra sau, diện (18x1,5)cm; tại vị trí mặt ngoài, phía trước bên trái ốp gầm xe có vết trầy xước, mài mòn nhựa, chiều hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào trong, diện (3x5)cm; tại vị trí chân đế chân chống nghiêng có vết trầy xước, mai mòn kim loại, hướng từ ngoài vào trong, diện (1x1)xcm; tại vị trí ốp nhựa gác để chấn phía sau bên trái có vết trầy xước, mài mòn nhựa, diện (6x5)cm.

Đối với xe mô tô 81B2-942.05, qua điều tra xác định là tài sản của bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1975, trú Tổ C Y, phường D, tỉnh Gia Lai - là mẹ của Nguyễn Hoàng Gia B). Ngày 30/6/2025, B mượn xe mô tô trên đi công việc, thì gây ra tai nạn giao thông. Sau khi khám nghiệm các dấu vết có liên quan đến tai nạn, Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại xe mô tô 81B2-942.05 cho bà L.

Đối với đoạn video clip diễn biến vụ tai nạn giao thông được trích xuất từ camera quan sát của Công ty cổ phần I, Cơ quan điều tra ghi vào USB, niêm phong và lưu vào hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 36/CT-VKS, ngày 12/12/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường Bộ”, theo điểm a Khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo mà bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

-Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bô ̣ luâ ̣t hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B từ: 01(một) năm đến 1 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 03(ba) năm về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.

-Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự; bà Nguyễn Thị L không có yêu cầu đối với hư hỏng xe, thiệt hại của xe mô tô 81B2-942.05, vì vậy đề nghị không giải quyết.

-Về vật chứng vụ án đã xử lý theo Quyết định xử lý, đồ vật tài liệu và biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B đã nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh G; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Gia Lai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét sự vắng mặt của ông Lê Hồng T1 và ông Lê Hồng T2 là người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Hồng  (đã chết) tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết quả giám định pháp y; kết quả khám nghiệm hiện trường; kết quả khám nghiệm các dấu vết liên quan đến tai nạn xe mô tô biển số 81B2-942.05 và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án thể hiện:

Khoảng 20 giờ 23 phút ngày 30/6/2025, bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B được cấp Giấy phép lái xe hạng A1 vào ngày 15/7/2024, điều khiển xe mô tô biển số 81B2-942.05 chở chị Trần Khánh P lưu thông ở làn đường dành cho xe máy, xe thô sơ, đường P, hướng từ ngã ba Hoa Lư đi ngã tư Y, phường T, tỉnh Gia Lai. Khi đi đến đoạn trước số nhà B đường P, thuộc Tổ D T, phường T, tỉnh Gia Lai, thì xe mô tô do bị cáo B điều khiển va chạm với ông Lê Hồng  (sinh năm 1945, trú số C đường T, phường T, tỉnh Gia Lai) đang đi bộ cùng chiều phía trước. Hậu quả ông  bị chết do chấn thương sọ não.

Hành vi của bị cáo B đã vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ, do thiếu quan sát, dẫn đến gây ra tai nạn giao thông là nguy hiểm cho xã hội, hậu quả làm chết 01 người, nên đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

…”.

Hiện nay tai nạn giao thông diễn biến phức tạp đang là sự quan tâm của xã hội. Nguyên nhân là do ý thức chấp hành pháp luật của người điều khiển phương tiện giao thông không tập trung quan sát chướng ngại vật trên đường, xử lý kém, trong đó bị cáo B là một trong những người chấp hành không nghiêm để xảy ra tai nạn làm chết một người. Tuy nhiên để dẫn đến vụ tai nạn giao thông một phần nguyên nhân xảy ra là do bị hại ông Lê Hồng  tuổi đã cao khi tham gia giao thông đi không đúng phần đường.

Xét khi gây ra tai nạn bị cáo B đã thực sự “ăn năn hối cải”; bản thân bị cáo ngay sau khi gây tai nạn cho bị hại, bị cáo đã nhờ người dân đưa bị hại đi cấp cứu và trong thời gian bị hại cấp cứu, có người nhà bị cáo B cùng gia đình bị hại túc trực tại bệnh viện; về bồi thường thiệt hại bị cáo B có tự nguyện bồi thường nhưng gia đình bị hại từ chối không nhận; bị cáo đã “thành khẩn khai báo”, giúp cơ quan tiến hành tố tụng nhanh chóng điều tra, kết thúc vụ án; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có chỗ ở ổn định; đại diện gia đình bị hại cũng có đơn bãi nại xin đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo B; bên cạnh việc gây tai nạn của bị cáo B không chú ý quan sát, thì cũng có một phần lỗi do bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Lẽ ra phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo B ra khỏi đời sống xã hội một thời gian; tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được áp dụng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; nên xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, cần áp dụng Điều 65 “Án treo” của Bộ Luật Hình sự, cho bị cáo B hưởng chế định án treo, bên cạnh sự giúp đỡ của gia đình và giao bị cáo cho chính quyền địa phương, nơi bị cáo sinh sống giám sát giáo dục cũng đủ răn đe và phòng ngừa chung là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện hợp pháp của bị hại Lê Hồng  (đã chết) theo hàng thừa kế thứ nhất gồm có: ông Lê Hồng T1 và ông Lê Hồng T2 tất cả không ai có ý kiến gì về trách nhiệm dân sự; đối với bà Nguyễn Thị L là chủ sở hữu chiếc xe mô tô 81B2-942.05 cũng không có yêu cầu đối với hư hỏng, thiệt hại của chiếc xe mô tô; đối với chị Trần Khánh P, chỉ bị xây xát nhẹ nên từ chối giám định tổn thương cơ thể và không yêu cầu, đề nghị gì đối với vụ tai nạn giao thông. Vì vậy, về trách nhiệm dân sự không đề cập giải quyết trong phần quyết định.

Vật chứng vụ án thu giữ trong quá trình điều tra, đã được xử lý theo Quyết định xử lý, đồ vật tài liệu số C2579 ngày 19/11/2025 và số C2685 ngày 25/11/2025 của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh G và biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G ngày 20/11/2025 và ngày 26/11/2025 cho bà Nguyễn Thị L và Nguyễn Hoàng Gia B.

Về án phí: bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bô ̣ luâ ̣t hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B 01(một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02(hai) năm, tính từ ngày tuyên án 12/01/2026.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B cho Ủy ban nhân dân phường D, tỉnh Gia Lai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách (nơi thường trú). Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc được người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 (Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án) và Danh mục án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Gia B phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công. -Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự; Trong hạn 15 ngày, bị cáo có quyền kháng cáo bản án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình kể từ ngày tuyên án hôm nay (12/01/2026) để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng ông Lê Hồng T1, ông Lê Hồng T2 là người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Hồng  (đã chết), vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Cỡ chữ