vanban.org

Bản án 03/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn K 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuy n án sơ th m. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn K - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sử…"
  • Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HS-ST
Ngày: 09 - 01- 2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Văn An.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Hà và ông Phạm Quốc Tuấn.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Th m tra vi n Toà án nhân khu vực 6 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Tiến - Kiểm sát vi n.

Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 6 - Ninh Bình xét xử sơ th m công khai vụ án hình sự sơ th m thụ lý số: 99/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2025 (Sau đây viết tắt là: 11/12/2025) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐXXST-HS ngày 16/12/2025, đối với bị cáo:

Trần Văn K, sinh năm 1990 tại Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Lê Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/9/2025 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Chị Đào Thị N, sinh năm 1993 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại gồm:

1. Bà Kiều Thị K, sinh năm 1951; nơi cư trú: Thôn H, xã T, thành phố Hà Nội - Là mẹ đẻ chị Đào Thị N.

2. Anh L Văn Đ, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình - Là Chồng chị Đào Thị N.

3. Cháu Lê Hải H, sinh ngày 18/7/2013 - Là con đẻ chị Đào Thị N; người đại diện theo pháp luật cho cháu H: L Văn Đ, sinh năm 1993; Cùng cư trú: Thôn Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình - Là bố đẻ cháu H.

4. Cháu Lê Trung K, sinh ngày 04/3/2017- Là con đẻ chị Đào Thị N; người đại diện theo pháp luật cho cháu K: L Văn Đ, sinh năm 1993; Cùng cư trú: Thôn Đ, phường T,tỉnh NinhBình - Là bốđẻcháu K.

5. Cháu L Đào Tuệ V, sinh ngày 08/01/2019 - Là con đẻ chị Đào Thị N; người đại diện theo pháp luật cho cháu V: L Văn Đ, sinh năm 1993; Cùng cư trú: Thôn Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình - Là bố đẻ cháu V.

Người đại diện theo uỷ quyền cho bà Kén là: Anh L Văn Đ, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Bà Ngô Thị V, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn Y, xã Q, tỉnh Thanh Hoá; vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Anh Lê Xuân S và anh Ngô Thế Đ; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn K có Giấy phép lái xe hạng C theo quy định, hiện là lái xe thu cho bà Ngô Thị V, sinh năm 1970, trú tại thôn M, xã Q, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng 19 giờ ngày 27/7/2025, Trần Văn K điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36H-014.58 chở hàng mua từ Thành phố Hà Nội về tỉnh Thanh Hóa, trên xe còn có anh Lê Xuân S và anh Ngô Thế Đ (là những người cùng làm thu cho bà V). Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày khi đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Quốc lộ 1A với đường T3 thuộc tổ dân phố Hoàng Thượng, phường Duy Hà, tỉnh Ninh Bình, chiều Hà Nội - Ninh Bình với tốc độ khoảng 45 km/h, K quan sát thấy b n phải đường theo chiều đi có biển cảnh báo nguy hiểm “Đi chậm” và “Giao nhau với đường không ưu tiên” Cách ngã ba giao nhau khoảng 150m, K giảm chân ga và điều khiển xe ô tô đi vào ngã ba thì thấy phía trước có một nhóm ba người thanh ni n (không xác định là ai, ở đâu) điều khiển đi tr n xe mô tô đi từ đường T3 nhập vào đường Quốc lộ 1A hướng Ninh Bình - Hà Nội (Đi từ b n trái sang bên phải theo chiều đi của K). K rà phanh để ô tô đi chậm lại đồng thời thấy phía b n phải có xe mô tô Honda, biển kiểm soát 29N4-9695 do chị Đào Thị N, sinh năm 1993, trú tại Thôn Đ, phường T, tỉnh Ninh Bình (đi sau xe môtô nhóm 03 thanh niên) điều khiển đi từ đường T3 vào đường quốc lộ 1A để đi theo hướng Ninh Bình - Hà Nội và cách đầu xe ô tô biển kiểm soát 36H-014.58 khoảng 10 mét. K đạp phanh và đánh lái xe sang trái để tránh nhưng do khoảng cách gần n n phần đầu b n phải xe ô tô 36H-014.58 của K đã đâm vào ngang thân người b n trái chị N và toàn bộ mặt b n trái chiếc xe mô tô 29N4 - 9695 làm chị N ngã xuống đường, xe mô tô 29N4 - 9695 nằm dưới gầm xe ô tô 36H-014.58, K gọi điện cho xe cấp cứu và cùng mọi người đưa chị N đến Bệnh viện đa khoa Hà Nam cứu chữa. Hậu quả: Chị N bị chấn thương sọ não nặng phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa Hà Nam và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức - Hà Nội, đến ngày 03/8/2025 chị N tử vong; hai phương tiện bị hư hỏng.

* Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng(những dấu vết chính)

Nơi xảy ra tai nạn giao thông tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Quốc lộ 1A với đường T3 thuộc tổ dân phố Hoàng Thượng, phường Duy Hà, tỉnh Ninh Bình. Tại vị trí xảy ra tai nạn có một khoảng mở (ở dải phân cách giữa) rộng 56,6 mét, tại hai đầu của khoảng mở có gắn biển P102 “Cấm đi ngược chiều”, biển R302a, R302b “Hướng phải đi vòng chướng ngại vật” mặt đường được áp phan nhựa tương đối bằng phẳng, hệ thống đèn chiếu sáng không bật. Đường quốc lộ 1A là tổ chức đường đôi có dải phân cách cứng ở giữa phân chia đường thành hai chiều đường xe chạy, chiều đường Hà Nội đi Ninh Bình được phân chia thành 04 làn đường bằng các vạch sơn trắng kẻ nét liền. Phía b n phải đường có cắm 02 biển P127 “Tốc độ tối đa cho phép; biển W245a “Đi chậm”; biển W207b “Giao nhau với đường không ưu tiên”, biển W245 “Đi chậm”; biển 423b “Vị trí người đi bộ sang ngang”, đối xứng sang chiều đường Ninh Bình đi Hà Nội cũng gắn 01 biển i423b “Vị trí người đi bộ sang ngang” và 02 đảo phân luồng giao thông. Đường T3 là tổ chức đường đôi có dải phân cách (trồng cây) ở giữa phân chia đường thành hai chiều xe chạy, đầu dải phân cách cứng có gắn biển P102 “Cấm đi ngược chiều”, R302a “Hướng phải đi vòng chướng ngại vật”. Chiều đường T3 ra Quốc lộ 1A được phân chia thành 04 làn đường bằng các vạch sơn trắng kẻ nối liền rộng, phía b n phải đường có biển P127 “Tốc độ tối đa cho phép”, biển W208 “Giao nhau với đường ưu tiên”; biển W245a “Đi chậm”, biển W208“Giaonhauvớiđườngưutiên”;chiềuđườngtừ quốclộ1A vàođường T3rộng10,9 mét.

Mốc hiện trường được xác định là điểm giao cắt giữa cạnh dưới và cạnh b n phía đường QL1A hướng Hà Nội - Ninh Bình của biển H4/221. Tất cả các dấu vết tr n hiện trường đều được đo vuông góc vào mép đường b n trái Quốc lộ 1A hướng Hà Nội- NinhBìnhvàđượcđánhsố thứ tự lầnlượt từ (1)đến (6).Cụthể:

Dấu vết (1) là xe ô tô biển số 36H-014.58 đang trong trạng thái đỗ tr n đường Quốc lộ 1A, xe vẫn đang nổ máy, bật đèn pha, không có ai trong khoang cabin, không bật đèn cảnh báo, đầu xe quay về phía Ninh Bình, đuôi xe quay về phía Hà Nội. Mặt ngoài má lốp b n trái tâm trục bánh sau cùng phía b n ngoài b n trái xe (1) cách mép chu n 22,95 mét. Mặt ngoài má lốp b n trái tâm trục bánh trước phía b n ngoài b n trái xe (1) cách mép chu n 23,55 mét.

Dấu vết (2) là xe mô tô biển số 29N4-9695 đang trong trạng thái đổ nghi ng sang phải, nằm tr n mặt đường Quốc lộ 1A, phía dưới gầm xe ô tô (1), đầu xe quay về phía Ninh Bình, đuôi xe quay về phía Hà Nội. Tâm trục trước xe (2) cách mép chu n 23,75 mét.

Dấu vết (3) là vết trượt sạt có kích thước (9,6x0,65) mét, có hướng Hà Nội đi Ninh Bình. Điểm gần nhất của đầu dấu vết (3) cách mép chu n 16,2 mét. Điểm gần nhất của đầu dấu vết (3) cách mép đường phía b n phải theo chiều Hà Nội đi NinhBìnhlà10,5 mét. Điểm gầnnhất của cuốidấuvết (3) cách mép chu n11,5 mét.

Dấu vết (4) là khu vực máu có kích thước (0,5x0,4) mét. Tâm khu vực (4) cách mépchu n13,8 mét. Đotừ tâm (4)về phía HàNội7,7 métlàđiểm cuốidấuvết(3).

Dấu vết (5) là khu vực kính, nhựa vỡ, cần đạp nổ máy, ốp cao su, mũ bảo hiểm, dép,đồăncókíchthước(13x5,4) mét. Tâm khuvực (5)cách mépchu n12,4 mét.

Dấu vết (6) là vết trượt sạt có kích thước (36,1x0,38) mét, có hướng Hà Nội đi Ninh Bình. Điểm gần nhất của đầu dấu vết (6) cách mép chu n 10,5 mét

* Kết quả khám phƣơng tiện (những dấu vết chính):

+ Xe ô tô BKS: 36H-014.58:

- Mặt ngoài cụm đèn xi nhan phía trước b n phải có vết mài sạt nhựa, bề mặt bám dính chất màu xanh, đỏ (nghi sơn) tr n diện (10,5 x 6) cm, có hướng từ phải sang trái, điểm thấp nhất đo cách mặt đất 82,5 cm

- Tr n bề mặt ba đờ sốc phía trước đầu xe có 03 vết mài sạt. Vết thứ nhất tại vị trí ngay phía tr n biển số có vết mài sạt, kẹp lõm kim loại, bề mặt bám dính chất màu nâu tr n diện (11 x 4,5) cm, có hướng từ phải sang trái, điểm thấp nhất. Tại vị trí đối xứng của dấu vết thứ nhất xuống phía dưới là vết mài sạt thứ hai, mặt ngoài cạnh dưới của dấu vết này có vết mài sạt kim loại, bề mặt bám dính chất màu xanh nghi sơn tr n diện (18 x 12) cm, hướng từ phải sang trái, từ tr n xuống dưới, điểm thấp nhất đo cách mặt đất 70,9 cm. Từ điểm đầu dấu vết thứ hai đo sang phải cách 77 cm là điểm đầu vết mài sạt thứ ba, vệt mài sạt thứ ba có bám dính chất màu xanh (nghi sơn) tr n diện 14,1 x 10,1 cm, có hướng từ phải sang trái, từ tr n xuống dưới, điểm thấp nhất nằm cách mặt đất 72,9 cm, điểm gần nhất của đầu dấu vết này cách cạnh ngoài cùng b n phải của ba đờ sốc là 30,5 cm.

- Cạnh tr n ốp mica bảo vệ biển số phía trước có vết nứt tách tr n diện (11,5 x 8,5) cm. Ốp kim loại bao quanh biển số phía trước cong v nh từ dưới l n tr n, tr n diện kíchthước (5,5x 1)cm.

- Mặt ngoài ống kim loại hình trụ tròn nằm ngang dưới gầm xe, ngay dưới vị trí ba đờ sốc phía trước có vết mài sạt tr n diện (19,5 x 2) cm, có hướng từ phải sang trái. Điểm thấp nhất đo cách mặt đất 57,5 cm. Điểm gần nhất đo cách cạnh ngoài b n phải của ống kim loại này là 120,4 cm.

- Mặt trước thanh dằng cầu trước phía dưới gầm xe bề mặt bám dính chất màu xanh (nghi sơn) tr n diện (21,5 x 8,5) cm.

- Mặt dưới khung kim loại hình trụ tròn được gắn bắt phía dưới gầm xe tại vịtrí trụcbánhtrướccóvết màisạttr ndiện (41x5)cm cóhướngtừ trướcvề sau.

- Mặt dưới phanh cầu sau hình trụ tròn b n phải có vết mài sạt, chùi sạch bụi tr n diện (12,5 x 8) cm hướng từ trước về sau. Mặt dưới trụ tròn bánh răng trục cắt đằng bánh sau có vết mài sạt, chùi sạch bụi tr n diện (15 x 27) cm hướng từ trước về sau.

- Hệ thống phanh còn tác dụng. Hệ thống điện có tác dụng. Đèn chiếu sáng, đèn xi nhan hai b n trước và sau có tác dụng. Còi có tác dụng.

+ Xe mô tô biển số 29N4-9695:

- Xe mô tô không có gương chiếu hậu b n phải, chốt bắt giữ gương chiếu hậu này có vết mài vẹt kim loại tr n diện kích thước (1,8 x 2) cm.

- Gương chiếu hậu b n trái bị dập vỡ nứt tách toàn bộ phần mặt gương, phần ốp gương để lại 01 ốp nhựa màu đen kích thước (7 x 6) cm.

- Ốp nhựa bảo vệ cụm đèn pha, đèn xi nhan phía trước đầu xe bị dập vỡ, bị bung bật rời khỏi xe, còn để lại 01 mảnh nhựa có kích thước (17 x 14,5) cm

- Mặt đồng hồ công tơ mét bị bung bật rời khỏi xe. Ốp nhựa bao quanh cụm đồng hồ công tơ mét bị bung bật khỏi các chốt hãm và nứt tách, mài sạt nhựa, bề mặt bám dính chất màu đỏ (nghi sơn) tr n diện kích thước (39 x 35) cm.

- Đầu ngoài ốp cao su tay lái phía b n phải có vết mài sạt tr n diện (3,6 x 1,3) cm, không rõ chiều hướng. Ốp kim loại được gắn bắt phía ngoài của tay lái này có vết mài sạt bề mặt bám dính bụi đất màu trắng tr n diện (2 x 2,5) cm.

- Mặt ngoài ốp kim loại gắn bắt phía ngoài cùng của tay nắm tay lái b n trái có vết mài sạt sáng kim loại tr n diện (3 x 0,2) cm. Khung tay lái phía trước bị đ y gập, cong v nh từ tr n xuống dưới, có vết mài sạt kim loại, bong tróc sơn tr n diện (18 x 2,5) cm, có hướng từ trước về sau, từ phải sang trái.

- Phanh tay phía b n phải bị đ y gập từ tr n xuống dưới, đầu ngoài của phanhtay này cóvết mài sạt kim loạitr ndiện(1,9x0,5)cm cóhướngtừ trướcvềsau.

- Ốp nhựa bảo vệ cổ xe phía trước bị nứt tách, bung bật khỏi các chốt hãm.

- Cánh yếm chắn gió b n phải bị nứt tách, mài sạt nhựa tr n diện (43 x 11,5) cm, hướng từ trước về sau; Cánh yếm chắn gió b n trái bị vỡ, nứt tách nhựa tr n diện (14,5x11) cm.

- Khung chắn bùn phía trước bánh trước có vết mài sạt, nứt tách nhựa tr n diện (42,5 x 22) cm, hướng từ trước về sau.

- Ốp nhựa bảo vệ giảm sóc bánh trước b n phải đ y lệch bật khỏi cách khớp bắt giữ, kẹt cứng vào lốp bánh trước. Mặt ngoài có vết mài sạt tr n diện kích thước (22 x 11) cm, hướng từ trước về sau; Ốp nhựa bảo vệ giảm sóc bánh trước b n trái bị bung bật ở các chốt hãm, có vết mài sạt nứt tách nhựa tr n diện (13 x 12) cm, hướng từ trước về sau.

- Bánh xe trước bị đ y lệch, bẹp méo từ trái sang phải. Mặt ngoài má lốp bánh trước phía b n trái có dấu vết mài sạt cao su, bám dính bụi đá màu trắng tr n diện kích thước (65 x 3,5) cm. Cạnh vành xe bánh trước b n phải có vết đ y bẹp lõm, mài sạt kim loại tr n diện (7 x 0,9) cm, hướng từ ngoài vào trong tâm trục. Điểm gần nhất của cuối dấu vết này cách vị trí chân van là 1,5cm.

- Mặt ngoài ốc bắt giữ giữa càng xe phía trước b n trái với mai-ơ có vết mài sạt kim loại tr n diện (1,5 x 0,3) cm.

- Cạnh dưới của đầu càng xe bánh trước b n trái bị mài vẹt kim loại tr n diện (2 x 1,5) cm có hướng từ trước về sau, từ trái sang phải.

- Ốc bắt giữ giữa dây phanh tay với mai-ơ bánh trước bị bung bật các chốt hãm. Đầu ốc bắt giữ này có vết mài sạt kim loại tr n diện (1,5 x 1,3) cm.

- Cần đạp phanh chân bị đ y gập từ trước về sau, từ ngoài vào trong ép sát vào lốc máy b n phải. Mặt ngoài, đầu ngoài cảu bàn đạp chân phanh này có vết mài sạt kim loại tr n diện (4 x 0,4) cm, hướng từ trước về sau. Mặt dưới của ống kim loại nối bàn đạp chân phanh này có vết mài sạt tr n diện (5,5 x 1,5) cm, hướng từ trước về sau, từ dưới l n tr n.

- Toàn bộ lốc máy phía b n phải bám dính dầu mỡ. Mặt ngoài của lốc máy này có vết mài sạt kim loại tr n diện kích thước (8 x 2,5) cm, hướng từ trước về sau. Để chân phía trước b n phải bị đ y ép từ ngoài vào trong, ép sát vào lốc máy b n phải, ốp cao su của để chân bị bật rời khỏi xe, làm để lộ lõi thanh kim loại.

- Cần đạp nổ phía bên phải xe gãy, bật rời khỏi xe. Cần sang số lùi phía b n trái bị đ y gập cong v nh từ sau về trước, từ ngoài vào trong.

- Để chân phía trước b n trái bị đ y ép từ sau về trước, từ ngoài vào trong. Ốp cao su bàn để chân này bị bật rời khỏi xe.

- Y n xe bị mài sạt rách thủng lớp vỏ bọc màu đen làm để lộ lớp xốp mút màu vàng b n trong tr n diện (75 x 43) cm, hướng từ trước về sau.

- Ốp nhựa sườn xe phía b n phải bị nứt tách, mài sạt tr n diện (43 x 22) cm, hướng từ trước về sau. Ốp nhựa sườn xe b n trái bị dập vỡ, nứt tách mất nhựa, còn để lại phần ốp nhựa kích thước (46,5 x 35) cm.

- Để chân sau b n phải bị rách thủng, mài sạt cao su tr n diện (10 x 5) cm, hướng trước về sau. Ống giảm sóc bánh sau b n phải, b n trái bị gãy, bung bật khỏi các chốt hãm. Mặt ngoài khung kim loại gắn bắt giảm sóc bánh sau b n phải với mai-ơ cóvết màisạt, bề mặtbám dính bụiđấttr ndiện (15x 7,5)cm, hướngtrướcvềsau.

- Ốp kim loại bảo vệ hộp xích tại vị trí đuôi hộp xích bị đ y bẹp méo, mài sạt tr n diện (12 x 17) cm, có hướng từ sau về trước.

- Khung kim loại phía sau đuôi xe tại vị trí tay xách bị đ y lệch từ phải sang trái, ép sát vào lốp sau, mặt ngoài tay xách phái b n phải có vết mài sạt rách cao su tr n diện (53 x 60) cm, hướng trước về sau.

- Ống xả bị bẹp méo, cong v nh, bề mặt có vết mài sạt kim loại tr n diện (25,5 x 12) cm, có hướng từ dưới l n tr n.

- Bánhlốpsau bị đ y lệch từ phảisangtráilàm đứtgãy, cong v nh05nanhoa.

- Biển số phía sau bị mài sạt cong v nh, bề mặt bám dính chất màu xanh (nghi sơn) tr n diện (20 x 9) cm.

- Chắn bùn phía sau bánh sau có vết mài sạt nhựa tr n diện (35,5 x 18,5) cm có hướng từ phải qua trái, từ dưới l n tr n. Hệ thống còi, đèn, phanh hư hỏng.

* Kết quả kiểm tra điều kiện ngƣời điều khiển phƣơng tiện:

Kiểm tra nồng độ cồn, xét nghiệm ma túy tại thời điểm tham gia giao thông kết quả: Trần Văn K không có nồng độ cồn và âm tính với các chất ma túy.

Bệnh án ngoại khoa mã bệnh nhân BN00566425 của Bệnh viện Đa khoa Hà Nam, tỉnh Ninh Bình ghi t n Đào Thị N, kết quả xét nghiệm sinh hoá máu: Ethanol (cồn) 13,7mg/dl.

* Kết luận giám định pháp y về tử thi:

Tại Bản Kết luận giám định tử thi số 285/KL-KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình, kết luận: Nguy n nhân chết của Đào Thị N: Chấn thương sọ não nặng điều trị không hồi phục.

* Tại Kết luận định giá tài sản số 137/KL-HĐĐGTS và 138/KL-HĐĐGTS ngày 29/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuy n trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận:

- Giá trị thiệt hại của xe ô tô tải, biển kiểm soát 36H-014.58 là 1.058.400 đồng.

- Giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 29N4-9695 là 1.674.000 đồng.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Quá trình điều tra Trần Văn K đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về tính mạng và tài sản cho gia đình chị Đào Thị N số tiền là 300.000.000 đồng, đại diện hợpphápđãnhậnđủtiền vàkhông có y ucầu gì về tráchnhiệm bồithườngdânsự.

- Đối với xe ô tô biển kiểm soát 36H-014.58, bà Ngô Thị V là chủ xe không có y u cầu đề nghị gì về phần bồi thường dân sự.

* Vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra xác định xe ô tô biển kiểm soát 36H-014.58 kèm theo giấy tờ xe là tài sản hợp pháp của bà Ngô Thị V và xe mô tô biển kiểm soát 29N4-9695 là tài sản hợp pháp của chị Đào Thị N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 36H-014.58 kèm theo toàn bộ giấy tờ xe cho bà Ngô Thị V và trả lại xe mô tô cho đại diện theo ủy quyền của người bị hại là anh L Văn Đ.

Giấy phép lái xe hạng C mang t n Trần Văn K được chuyển đến Phòng Thi hành án khu vưc 6 – Ninh Bình.

* Quá trình điều tra: Trần Văn K đã thành kh n khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện trong vụ án.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS-TA ngày 09/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình, đã truy tố Trần Văn K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình luận tội: Giữ nguy n quan điểm truy tố đối với Trần Văn K như cáo trạng đã n u, không có ý kiến sửa đổi, bổ sung. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, cũng như yếu tố nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Văn K từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng; áp dụng hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề lái xe ôtô đối với bị cáo từ 12 đến 24 tháng; đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng của vụ án.

- Bị cáo Trần Văn K thừa nhận nội dung truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo là hoàn toàn đúng pháp luật, đồng thời trình bày cụ thể về thời gian, địa điểm và diễn biến toàn bộ hành vi điều khiển xe ôtô tải gây tai nạn cho chị Đào Thị N vào tối ngày 27/7/2025 đúng như nội dung cáo trạng đã mô tả. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hoặc khiếu nại gì, bản thân đã nhận thức rõ sai phạm và thực sự ăn năn hối cải, mong muốn sửa chữa, đề nghị HĐXX xem xét được cải tạo tại địa phương để lao động, xây dựng cuộc sống gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phi n toà, HĐXX nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng th m quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phi n tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra vi n, Kiểm sát vi n trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguy n tắc tố tụng, cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.

Về tội danh: Lời khai của Trần Văn K tại phi n tòa về diễn biến nội dung vụ tai nạn phù hợp với lời khai người làm chứng có mặt tại hiện trường, các vật chứng đã thu giữ cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra. Lời khai của bị cáo còn phù hợp và được chứng minh bằng hình thù các dấu vết được thể hiện trong bi n bản khám nghiệm hiện trường, bi n bản khám nghiệm các phương tiện, sơ đồ hiện trường vụ án, kết luận giám định pháp y, kết luận định giá tài sản cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/7/2025, Trần Văn K có giấy phép lái xe hạng C theo quy định, điều khiển xe ôtô biển số 36H-014.58 tr n Quốc lộ 1A hướng Hà Nội - Ninh Bình; khi đến ngã ba giao nhau giữa Quốc lộ 1A với đường T3 thuộc tổ dân phố Hoàng Thượng, phường Duy Hà, tỉnh Ninh Bình. Trần Văn K đã không chấp hành biển báo hiệu nguy hiểm: “Đi chậm” và “Giao nhau với đường không ưu tiên”, dẫn đến phần đầu b n phải xe ôtô 36H-014.58 do K điều khiển đã đâm vào ngang thân người b n trái chị Đào Thị N và toàn bộ mặt b n trái chiếc xe mô tô 29N4 - 9695 do chị N điều khiển đang đi sang đường (Đã vi phạm điểm c khoản 2 Điều 11, điểm b khoản 3 Điều 12 Luật trật tự an toàn giao thông đường bộ). Hậu quả: Chị N bị thương phải đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện, đến ngày 03/8/2025 chị N tử vong; thiệt hại xe môtôbiểnkiểm soát 29N4-9695là1.674.000đồng.

Hành vi n u tr n của Trần Văn K đã đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Ninh Bình đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đảm bảo căn cứ pháp luật.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và tính mạng của người khác, ảnh hưởng và tác động xấu đến tâm lý của mọi người khi tham gia giao thông tr n địa bàn. Bản thân là người được cấp giấy phép lái xe theo quy định, nhận thức rõ về tính nguy hiểm khi điều khiển ôtô, nhưng lại chủ quan trong việc quan sát, không đảm bảo an toàn tại đoạn đường giao nhau, n n gây ra vụ tai nạn giao thông n u tr n, tự đưa mình vào con đường phạm tội. Đánh giá tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, HĐXX thấy cần phải xử lý nghi m minh tương xứng với hành vi mà bị cáo đã phạm phải mới có tác dụng giáo dục bị cáo, cũng như phòng ngừa tội phạm về giao thông đường bộ hiện nay.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phi n toà bị cáo luôn thành kh n khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, thể hiện rõ thái độ ăn năn hối cải trước pháp luật và gia đình bị hại, mong muốn sửa chữa lỗi lầm; đây là lần đầu bị cáo phạm tội, với lỗi vô ý; ngay sau khi gây tai nạn bị cáo đã chủ động đưa ngay nạn nhân đi cấp cứu tại bệnh viện; quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong vụ án, bị hại cũng có một phần lỗi thiếu chú ý quan sát, điều khiển xe đi tr n đường không ưu ti n khi vào ngã ba giao nhau đã không nhường đường cho xe đi tr n đường ưu ti n. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, yếu tố nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, cũng như xét khả năng tự cải tạo của bị cáo, HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt, không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm chung, đảm bảo đúng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao. Tạo cơ hội cho bị cáo tự rènluyện,sửa chữavàthấy được chínhsáchnhânđạo của Nhànướcđốivớingườiphạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo, duy trì trật tự an toàn giao thông đường bộ nói chung, cũng như tính nghi m minh của pháp luật đối với tội phạm này trong tình hình hiện nay. HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng Điều 41 và khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự cấm bị cáo hành nghề lái xe ôtô trong một thời hạn nhất định mới đảm bảo tính răn đe trong xã hội.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe số 790160099748, hạng C, mang t n Trần Văn K, là giấy tờ cá nhân của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhi n, cần tiếp tục thu giữ đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện theo pháp luật, đại diện theo ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại; Bị đơn dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn K 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuy n án sơ th m.

Giao bị cáo Trần Văn K cho Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáodục trongthờigianthửthách. Gia đìnhbị cáo cótrách nhiệm phối hợp vớichính quyềnđịa phươngtrong việc giám sát,giáodụcbịcáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 41 và khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự: Cấm bị cáo Trần Văn K hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

[3] Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại bị cáo Trần Văn K: 01 (một) Giấy phép lái xe hạng C số 790160099748, mang tên Trần Văn K do Sở Giao thông vận tải tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 12/6/2021. (Nhưng tiếp tục thu giữ Giấy phép lái xe ôtô này cho đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung).

(Vật chứng tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 29/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tình Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình).

[4] Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Án phí hình sự sơ th m: Bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Án xử công khai sơ th m, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện theo pháp luật, đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của bị hại; Bị đơn dân sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ