- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T tội sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHI VỰC 3 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2026/HS-ST Ngày 16-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Mỹ Phước
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nông Văn Hưng
Bà Trần Thị Diệp
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trương Thị Hợi – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 42/2025/TLST-HS, ngày 18 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2026/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 29/7/1999 tại xã V, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn B, xã V, tỉnh Lạng Sơn; Căn cước công dân số: 020099001195, cấp ngày 16/7/2025; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1976 và con bà Dương Thị G, sinh năm 1973; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: Ngày 09/3/2023, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong ngày 04/11/2024. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/10/2025 tại Phân trại tạm giam khu vực B, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T là đối tượng sử dụng ma túy, đã đi cai nghiện ma tuý bắt buộc từ ngày 04/5/2023 đến ngày 04/11/2024 theo Quyết định số 08/2023/QĐ-TA ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Sau khi chấp hành xong, Nguyễn Văn T được quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 155/QĐ-UBND ngày 05/11/2024 của UBND xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, từ ngày 05/11/2024 đến ngày 05/11/2026.
Trong quá trình chấp hành việc quản lý sau cai nghiện ma tuý, khoảng 07 giờ ngày 19/10/2025, Nguyễn Văn T một mình đi xe ô tô khách đến khu vực ngã tư Đ thuộc xã V, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy Heroin. Tại đây, Nguyễn Văn T gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ, hỏi mua 200.000 đồng ma túy H, người này đồng ý và đưa cho 01 gói ma túy Heroin. Nguyễn Văn T nhận ma túy rồi đón xe ô tô khách về nhà. Khi về đến nhà, Nguyễn Văn T lấy kim tiêm, nước cất đã chuẩn bị từ trước và sử dụng hết số ma túy vừa mua được bằng hình thức chích vào ven tay. Sử dụng xong, lo sợ gia đình biết nên Nguyễn Văn T vứt kim tiêm và lọ nước cất vào bếp lửa đốt. Ngày 21/10/2025, Công an xã V, tỉnh Lạng Sơn đã mời Nguyễn Văn T, đến trụ sở Công an xã làm việc. Trong quá trình làm việc đã tiến hành và test ma túy, kết quả xét nghiệm cho thấy Nguyễn Văn T dương tính với chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T và trưng cầu giám định.
Tại Kết luận giám định số 2993/KL-KTHS ngày 22/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh B về ma tuý trong nước tiểu của Nguyễn Văn T, kết quả như sau: Mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn T tìm thấy chất M là thành phần chuyển hóa của H1 (H).
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKSKV3, ngày 17/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn, đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị: Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi tố tụng, quyết định của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/10/2025, bị cáo Nguyễn Văn T một mình đi đến khu vực ngã tư Đ thuộc xã V, tỉnh Thái Nguyên mua 01 gói ma túy Heroin giá 200.000 đồng với một người đàn ông không quen biết, sau khi mua được đã sử dụng hết. Đến ngày 21/10/2025, Công an xã V, tỉnh Lạng Sơn đã triệu tập Nguyễn Văn T, là người được quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 155/QĐ-UBND ngày 05/11/2024 của UBND xã V, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, đến trụ sở Công an xã vũ L để làm việc và test ma túy với kết quả dương tính. Kết luận giám định nước tiểu thu được của Nguyễn Văn T tìm thấy chất ma túy Morphine là thành phần chuyển hoá của Heroine. Hành vi của bị cáo là sử dụng trái phép chất ma tuý trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma tuý, đã vi phạm khoản 2 Điều 40 Luật Phòng, chống ma tuý năm 2021: "Người đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định". Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng, hành vi của bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Hành vi của bị cáo bị nhân dân lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm cấm, do đó phải được xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục bị cáo, răn đe, phòng ngừa chung. Để có mức án thỏa đáng ngoài việc xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tiền sự: Bị cáo là người nghiện ma tuý, ngày 09/3/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 08/2023/QĐ-TA. Ngày 04/11/2024 chấp hành xong, tính đến ngày phạm tội 19/10/2025, bị cáo chưa được xoá tiền sự.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người đi cai nghiện bắt buộc, sau khi chấp hành xong vẫn sử dụng ma túy, có 01 tiền sự chưa được xoá do đó là người có nhân thân xấu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã được cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tiếp tục tái nghiện và sử dụng trái phép chất ma tuý, không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân. Bởi vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý Heroin cho bị cáo Nguyễn Văn T tại khu vực ngã tư Đ thuộc xã V, tỉnh Thái Nguyên, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng do không xác định được danh tính nên Hội đồng xét xử chưa xem xét xử lý trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra truy tìm vật chứng là bơm kim tiêm, lọ nước cất tại khu vực bếp nấu ăn của gia đình nhưng không thu giữ đồ vật gì liên quan, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn về tội danh, mức hình phạt và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với các nhận định nêu trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo là người bị kết án, không thuộc đối tượng được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 38 Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 10 năm 2025.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND KV3 - Lạng Sơn; - CQCSĐT Công an tỉnh Lạng Sơn; - Phân trại tạm giam Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; - CQ THAHS Công an tỉnh Lạng Sơn; - Phòng THADS KV3, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Thị Mỹ Phước |