vanban.org

Bản án 03/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Hải A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Lê Hải A 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 9 năm 2025. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hải A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hải A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HS-ST
Ngày: 13-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Liên;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Văn Đài;

Ông Nguyễn Đình Quang;

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Vòng A Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 185/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hải A, sinh năm 2003 tại Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ); Số Căn cước công dân: 07520301xxxx. Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội. Nơi cư trú: xã TA, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai, bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 13/01/2025, bị Công an xã TA, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nay là xã TA, tỉnh Đồng Nai) ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC đối với Lê Hải A, số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/9/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 – Công an tỉnh Đồng Nai - Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Hồ Sềnh D, sinh năm 1987– Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hải A là đối tượng nghiện ma tuý từ năm 2023, loại ma tuý thường sử dụng là ma tuý đá (Methamphetamine), A thường mua ma tuý của nhiều đối tượng khác nhau đem về sử dụng. Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/9/2025 A mượn xe môtô (không rõ biển số) tại chỗ rồi đi đến nhà của đối tượng Nguyễn Thị Thu D tại phường Tân Triều, tỉnh Đồng Nai (do A biết D thường bán ma tuý) nên A hỏi mua ma tuý, khi đến nơi A gọi cửa thì D ra mở cửa, A hỏi mua 01 gói ma tuý đá với giá 200.000 đồng. D đồng ý rồi đóng cửa đi vào trong nhà thì A nhét số tiền 200.000 đồng vào khe cửa, một lúc sau thì A thấy từ trong nhà đưa qua khe cửa 01 gói ma tuý đá (ai đưa ma tuý thì A không biết). A cầm gói ma tuý vừa mua đem về nhà tại xã TA, tỉnh Đồng Nai cất giấu trên nóc tủ thờ nhằm mục đích sử dụng. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/9/2025 Lực lượng Công an tỉnh Đồng Nai (Phòng PC04) phối hợp cùng Công an xã TA, tỉnh Đồng Nai tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Lê Hải A, qua kiểm tra phát hiện và thu giữ 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng được cất giấu trên nóc tủ thờ. Lê Hải A khai nhận gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma tuý đá A mua đem về cất giấu mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Lực lượng Công an tỉnh Đồng Nai (Phòng PC04) và Công an xã TA, tỉnh Đồng Nai đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai xử lý theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 2077/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong (kí hiệu M) gửi đến giám định là ma tuý, khối lượng là 0,1128 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra bị cáo A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

- Vật chứng thu giữ: 01 phong bì đã được niêm phong ký hiệu số 2077/KL-KTHS (bên trong có chất ma tuý còn lại sau giám định) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel (không gắn thẻ sim) thu giữ của bị cáo Lê Hải A.

- Tại bản Cáo trạng số: 56/CT-VKS-KV3 ngày 16 tháng 12 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đồng Nai đã truy tố Lê Hải A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025);

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025), đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hải A từ 03 (ba) năm tù đến 04 (bốn) năm tù;

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất các biện pháp xử lý vật chứng, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

- Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu, bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên và của các cơ quan tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định.

Về sự vắng mặt của người làm chứng: Đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt, tuy nhiên người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra và không ảnh hưởng đến việc xét xử nên căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025) Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

Về nội dung:

Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Bị cáo là người nghiện ma túy từ năm 2023, đã nhiều lần mua ma túy về sử dụng. Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/9/2025 tại nhà của bị cáo Lê Hải A thuộc tổ 8, ấp 9, xã TA, tỉnh Đồng Nai, bị cáo A đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1128 gam nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an tỉnh Đồng Nai (Phòng PC 04) phối hợp cùng Công an xã TA, tỉnh Đồng Nai kiểm tra phát hiện và bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/9/2025, Kết luận giám định số: 2077/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, lời khai của người làm chứng và phù hợp với nội dung bản Cáo trạng số 56/CT-VKS-KV3 ngày 16/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận, hành vi của bị cáo Lê Hải A đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025) như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đồng Nai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương và trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức biết rõ tác hại của ma túy và việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt đủ nghiêm nhằm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, sống tuân thủ pháp luật, đồng thời còn nhằm răn đe và phòng ngừa chung. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo không có tiền án, có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong chứa ma túy sau giám định số: 2077/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai;

Trả lại cho bị cáo Lê Hải A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel (không gắn thẻ sim) đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, đã cũ, không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật bên trong điện thoại là tài sản hợp pháp của bị cáo A, không sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Đối với đối tượng tên Nguyễn Thị Thu D, bị cáo A khai nhận đã mua ma tuý của D nhưng D không thừa nhận, ngoài lời khai của bị cáo A thì không có chứng cứ nào khác chứng minh D đã bán ma tuý cho bị cáo A. Ngày 13/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Nguyễn Thị Thu D cùng đồng bọn về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, để tiến hành điều tra trong vụ án khác theo quy định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai là phù hợp với các nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025):

- Tuyên bố bị cáo Lê Hải A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Xử phạt bị cáo Lê Hải A 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 9 năm 2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025);

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong chứa ma túy sau giám định số 2077/KL-KTHS ngày 11/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai;

- Trả lại cho bị cáo Lê Hải A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel (không gắn thẻ sim) đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, đã cũ, không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật bên trong điện thoại.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số STT43-2026 ngày 17/12/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Đồng Nai).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Lê Hải A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ