vanban.org

Bản án 03/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang , tỉnh An Giang Tuyên án 07/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Hoàng Văn K: 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/7/2025. Về biện pháp tƣ pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật sự; Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 03/2026/HS-ST
Ngày: 07/01/2026

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Thoa

Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hồng Tƣơi

2. Bà Nguyễn Tƣờng Diễm Linh Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Phƣơng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tặng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 01 năm 2026 tại Toà án nhân dân khu vực 2 - An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 106/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2025, theo định đưa ra xét xử số: 97/2025/QĐXXST-HS ngày 22/12/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn K, sinh ngày: 29/4/2000; Giới tính: Nam.

Tại: Đ, Quảng Trị.

Nơi ĐKTT: Tổ dân phố G, phường Đ, tỉnh Quảng Trị.

Chỗ ở trước khi bị bắt là nhà trọ tại: Tổ A, khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang.

Căn cước công dân: 044200007977 cấp ngày 25/6/2025.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12.

Cha: Hoàng Văn Đ, sinh năm 1972, chết năm 2016.

Mẹ: Đặng Thị T, sinh năm 1974, còn sống.

Anh: 01 người, sinh năm 1997

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ, tạm giam: 04/7/2025

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 05 phút ngày 04/7/2025, Hoàng Văn K dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone liên lạc với một người thanh niên có tên thường gọi là Đ1 (chưa rõ nhân thân) qua ứng dụng Zalo với tên tài khoản "Nike" hỏi mua 300.000 đồng ma túy, Đ1 đồng ý. Đến khoảng 01 giờ 15 phút cùng ngày K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu trắng, biển kiểm soát 67C1-893.10 (mượn của Phan Thanh N trước đó) đến điểm hẹn tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường L với đường H thuộc khu phố E, D, đặc khu P, tỉnh An Giang gặp Đ1 mua 01 đoạn ống nhựa bên trong có chứa ma túy, với giá 300.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua được ma túy Kiện cất giấu bên trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe để về nhà nghỉ Q nơi K thuê ở. Lúc này khoảng 01 giờ 25 phút cùng ngày, khi K điều khiển xe đến khu vực trước nhà nghỉ Q thuộc tổ A, khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang thì bị Công an tỉnh A kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Ngày 12/7/2025, Hoàng Văn K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A khởi tố, tạm giam để điều tra.

Thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

- 01 đoạn ống nhựa trong suốt, được hàn kín 02 đầu, kích thước 1,8 x 2,5cm bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất (đã được niêm phong);

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, chưa xác định rõ số IMEI, máy đã qua sử dụng (thu giữ của Hoàng Văn K);

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, màu trắng, biển kiểm soát 67C1- 893.10, chưa xác định được số khung, số máy, xe đã qua sử dụng.

Kết luận giám định:

Tại Kết luận giám định số: 16/KL-KTHS ngày 10/7/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh A kết luận: “Các hạt tinh thể rắn màu trắng, không đồng nhất chứa trong đoạn ống nhựa được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine”. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,2740 gam.

(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IC, STT 247, 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ).

Tại bản Cáo trạng số: 42/CT-VKSKV2 ngày 16 tháng 12 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang truy tố bị cáo Hoàng Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS được sửa đổi bổ sung năm 2025 theo Luật số 86/2025 ngày 25/6/2025.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025 theo Luật số 86/2025 ngày 25/6/2025.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025 theo Luật số 86/2025 ngày 25/6/2025; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt Hoàng Văn K từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tƣ pháp: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật sự; Điều 106 Bộ luật tụng hình sự xử lý vật chứng như sau:

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 đoạn ống nhựa trong suốt, được hàn kín 02 đầu, kích thước 1,8 x 2,5cm bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất (đã được niêm phong) ký hiệu vụ số 958/2025, ma tuý còn lại sau giám định là 0,2277 gam đựng trong một bịch nylon;

* Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, chưa xác định rõ số IMEI, máy đã qua sử dụng (thu giữ của Hoàng Văn K).

* Trả lại tài sản cho chủ sở hữu:

- Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh A đã trả lại cho anh Phan Thanh N là chủ sở hữu 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave, màu trắng, biển kiểm soát 67C1- 893.10, chưa xác định được số khung, số máy, xe đã qua sử dụng nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số 16/KL-KTHS, ngày 10/7/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh A và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan sát điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và thừa nhận việc khởi tố, truy tố bị cáo là đúng pháp luật.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ được trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, tang vật còn lại sau giám định là 0,2277 gam ma tuý loại Methamphetamin là ma tuý bị cáo mua để sử dụng.

Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, bị cáo đã tự dùng tiền của mình để mua 300.000 đồng ma túy của một người đàn ông tên Đ1, chưa rõ nhân thân để mang về sử dụng, trên đường mang về nhà thì bị bắt quả tang. Do ma tuý loại Methamphetamin nằm trong danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025 tại mục 18 Điều 1 Luật 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 có khung hình phạt từ 03 năm đến 05 năm tù là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe và tính mạng con người, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội và các loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bên ngoại bị cáo có ông N1 được tặng thưởng nhiều huân, huy chương, do đó HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS khi lượng hình cho bị cáo.

. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý tang vật trong vụ án như sau:

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 đoạn ống nhựa trong suốt, được hàn kín 02 đầu, kích thước 1,8 x 2,5cm bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất (đã được niêm phong) ký hiệu vụ số 958/2025, ma tuý còn lại sau giám định là 0,2277 gam đựng trong một bịch nylon.

* Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, chưa xác định rõ số IMEI, máy đã qua sử dụng (thu giữ của Hoàng Văn K) là tang vật trong vụ án cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

* Trả lại tài sản cho chủ sở hữu:

- Đối với chiếc xe Honda loại Wave, màu trắng, biển kiểm soát 67C1-893.10 bị cáo mượn của anh Phan Thanh N, anh N không biết K dùng để đi mua ma tuý về sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh A đã trả lại cho anh Phan Thanh N, do đó HĐXX không xem xét.

. Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang đề nghị về tội danh, mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

. Đối với thanh niên tên Đ1 đã bán ma tuý cho bị cáo, chưa rõ nhân thân, Công an tỉnh A tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ pháp luật: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025 (tại mục 18 Điều 1 Luật 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật hình sự); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Hoàng Văn K: 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/7/2025.

2. Về biện pháp tƣ pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tụng hình sự.

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 đoạn ống nhựa trong suốt, được hàn kín 02 đầu, kích thước 1,8 x 2,5cm bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng không đồng nhất (đã được niêm phong) ký hiệu vụ số 958/2025, ma tuý còn lại sau giám định là 0,2277 gam đựng trong một bịch nylon.

* Tịch thu sung công quỹ nhà nƣớc:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, chưa xác định rõ số IMEI, máy đã qua sử dụng (thu giữ của Hoàng Văn K).

(Tang vật trên đã được chuyển giao cho Phòng thi hành án Dân sự khu vực 2 – An Giang theo quyết định chuyển vật chứng số: 28/QĐ-VKSKV2 ngày 16/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 và biên bản bàn giao ngày 07/01/2026 của CQCSĐT Công an tỉnh A cho Phòng thi hành án Dân sự khu vực 2 – An Giang).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ