- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Thị H - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] [1] Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt: Lô Thị H 11 (Mười một) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Nghệ An nhận được q…
- Căn cứ chính? Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2026/HS-ST Ngày 27-02-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lữ Văn Thành.
Bà Đặng Thị Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11-Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lô Thị H, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 15 tháng 5 năm 1993 tại xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản L, xã L, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lô Thanh L, sinh năm 1952 và con bà Vi Thị L, sinh năm 1960; Chồng: Lim Văn K, con: 02 người con; Tiền án: Ngày 16/01/2020, Lô Thị H bị toà án nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An (Nay là Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh Nghệ An) xử phạt tiền 20.000.000 đồng về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, theo bản án hình sự sơ thẩm số 05/2020/HS-ST. Đến ngày 15/9/2025, Lô Thị H chấp hành xong hình phạt tiền, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khơi nơi cư trú.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công Thiết – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1996. Trú tại: Bản Khe Kiền, xã T, tỉnh Nghệ An. Có đơn xét xử vắng mặt
+ Chị Đậu Thị Ánh T, sinh năm 1973. Trú tại: Bản Cửa Rào 1, xã T, tỉnh Nghệ An. Có đơn xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 22/10/2025, Lô Thị H cùng với Nguyễn Thị Thu H và Đậu Thị Ánh T đang ngồi chơi ở nhà của Hà thì thấy 01 bộ bài tú lơ khơ, màu đỏ trên bàn uống nước nên cả ba cùng rủ nhau đánh bạc. Sau đó, Hoài, Hà và Tuyết đi vào phòng ngủ của H rồi cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Ba cây”. Lô Thị H, Nguyễn Thị Thu H và Đậu Thị Ánh T thống nhất cách thức đánh bài “Ba cây” ăn tiền như sau:
Một người chia bài cầm cái (Còn gọi là cầm chương), hai người còn lại thì đặt cược số tiền từ 20.000 đồng đến 200.000 đồng và là bội số 10.000 đồng. Sau đó, người cầm cái dùng bộ bài 36 lá (Từ lá A đến lá 9), rồi chia mỗi người 03 lá bài. Sau đó, tất cả người chơi, cộng điểm tổng của 03 lá bài lại, và chỉ tính điểm bằng hàng đơn vị (0 điểm là cao nhất, 01 điểm là thấp nhất). Sau đó, người đặt cược so sánh điểm với người cầm cái, nếu lớn hơn thì thắng được số tiền bằng số tiền đặt cược, thấp hơn thì thua số tiền đặt cược. Nếu người nào được ba lá bài đồng chất liên tiếp (Ví dụ 7-8-9 đồng chất rô), thì người thua phải trả gấp bốn lần số tiền đặt cược. Nếu người nào được ba lá bài cùng đơn vị “Sáp” (Ví dụ: 8-8-8), thì người thua phải trả gấp ba lần số tiền đặt cược và nếu ba lá bài được tổng điểm hàng đơn vị là 0 (Được gọi là 10 điểm), thì người thua phải trả gấp hai lần số tiền đặt cược và được cầm cái ván tiếp theo. Trong trường hợp các người chơi bằng điểm nhau thì so sánh lá bài theo chất thứ tự rô, cơ, chuồn, bích, lớn hơn thì thắng.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi cả ba đang ngồi đánh bạc thì bị tổ công tác Công an xã T, tỉnh Nghệ An tiến hành kiểm tra, phát hiện thu giữ: 01 bộ bài tú lơ khơ, màu đỏ gồm có 36 lá bài từ A đến 9 (Đã qua sử dụng) và tổng số tiền 2.760.000 đồng. Lô Thị H, Nguyễn Thị Thu H và Đậu Thị Ánh T đều khai nhận, toàn bộ số tiền 2.760.000 đồng mà tổ công tác thu giữ đều sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Quá trình điều tra, đã xác định được số tiền bị can và các đối tượng sử dụng để đánh bạc và số tiền thắng, thua cụ thể như sau:
- Lô Thị H sử dụng 900.000 đồng đánh bạc. Quá trình đánh bạc Hoài thua số tiền 280.000 đồng.
- Nguyễn Thị Thu H sử dụng 1.100.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc Hà thắng số tiền 420.000 đồng.
- Đậu Thị Ánh T sử dụng 760.000 đồng đánh bạc. Quá trình đánh bạc Tuyết thua số tiền 140.000 đồng.
Kết luận giám định số 162 ngày 08/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Số tiền 2.760.000 (Hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng, gửi giám định là tiền thật.
Bản Cáo trạng số 04/CT-VKS-KV11 ngày 14 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Nghệ An đã truy tố Lô Thị H về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Lô Thị H mức án từ 09 tháng đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo; xử lý vật chứng: Sung ngân sách nhà nước số tiền 2.760.000đ, tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ, màu đỏ gồm có 36 lá bài từ A đến 9 (Đã qua sử dụng).
Người bào chữa không có ý kiến tranh luận với bản cáo trạng và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[2] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có đơn xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lô Thị H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được công bố công khai tại phiên tòa, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 11 giờ ngày 22 tháng 10 năm 2025, tại nhà ở của Nguyễn Thị Thu H ở bản Khe Kiền, xã T, tỉnh Nghệ An. Lô Thị H đã có hành vi đánh bạc trái phép với tổng số tiền đánh bạc là 2.760.000 đồng. Bị cáo có 01 tiền án về tội Đánh bạc theo Bán án số 05/2020/HS-ST ngày 16/01/2020 của toà án nhân dân huyện T, tỉnh Nghệ An (Nay là Toà án nhân dân khu vực 11, tỉnh Nghệ An), chưa được xoá án tích. Vì vậy, Lô Thị H phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đã cấu thành tội: Đánh bạc. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11- Nghệ An đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới an toàn công cộng, trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được mọi hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật. Song với mục đích nhằm thu lợi bất chính bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng đến nhiều gia đình bởi đã lôi kéo nhiều người tham gia, chẳng những làm gia tăng tệ nạn cờ bạc trong cộng động dân cư, mà còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống bình thường của nhiều gia đình khi có con em người thân đam mê cờ bạc, và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Vì vậy cần lên mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng được Hội cựu chiến binh tỉnh Nghệ An khen tặng tám chữ vàng danh dự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng của pháp luật. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ cận nghèo hiện nay đang nuôi 02 người con nhỏ. Do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo và lượng hình ở mức như lời đề nghị của Kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo Lô Thị H không có nghề nghiệp ổn định, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên cần miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Vật chứng vụ án:
- Đối với số tiền 2.760.000 đồng (Hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo, chị Nguyễn Thị Thu H, bà Đậu Thị Ánh T sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01(một) bộ bài tú lơ khơ, màu đỏ gồm có 36 lá bài từ A đến 9 (Đã qua sử dụng) là vật chứng vụ án không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi đánh bạc trái phép của Nguyễn Thị Thu H và Đậu Thị Ánh T. Quá trình điều tra đã xác định được hành vi của Hà và Tuyết không cấu thành tội phạm, nên Công an xã T, tỉnh Nghệ An ra Quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định pháp luật.
Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên miễn án phí hình sự sơ thẩm bị cáo. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] [1] Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt: Lô Thị H 11 (Mười một) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án.
Giao các bị cáo Lô Thị H cho chính quyền Uỷ ban nhân dân L, tỉnh Nghệ An theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời hạn chấp hành Cải tạo không giam giữ. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
Trường hợp bị cáo Lô Thị H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lô Thị H.
[2] Xử lý vật chứng và biện pháp từ pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: Vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận ngày 16.01.2026 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11- Nghệ An);
+ Sung ngân sách nhà nước số tiền 2.760.000đ (Hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) hiện đang được bảo quản tại Kho bạc nhà nước khu vực XI, phòng giao dịch số 27 theo biên bản giao nhận số 01 ngày 31 tháng 12 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Nghệ An và Kho bạc nhà nước khu vực XI, phòng giao dịch số 27.
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lô Thị H.
[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 27/02/2026. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án đã được niêm yết công khai hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh NA; - VKSND Khu vực 11-Nghệ An; - Công an tỉnh Nghệ An; - UBND xã L, Nghệ An - Bị cáo; - Người CQLVNVLQ; - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An; - THADS tỉnh Nghệ An; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Ái |