- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lương Thị Mỹ L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị Mỹ L được ly hôn anh Hoàng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST Ngày: 02-02-2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vy Văn Lâm.
2. Bà Phan Thị Toán.
- Thư ký phiên toà: Bà Vy Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 51/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2026/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lương Thị Mỹ L, sinh năm 1996. Căn cước công dân số: 019196004704. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã Y, tỉnh Lạng Sơn. Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã Y1, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1993. Căn cước công dân số: 020093009487. Địa chỉ: Thôn K, xã Y, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 28/10/2025 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lương Thị Mỹ L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Mỹ L và anh Hoàng Văn T kết hôn năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay là Ủy ban nhân dân xã Y1, tỉnh Thái Nguyên). Trước khi kết hôn, anh chị được tự do tìm hiểu nhau, không bị ai ép buộc, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Đến năm 2019, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Hoàng Văn T không có công việc thu nhập ổn định, không quan tâm đến gia đình, vợ con, thường xuyên chơi cờ bạc; ngoài ra, anh Hoàng Văn T còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác (ngoại tình), không chung thủy với chị. Những lúc vợ chồng mâu thuẫn, anh luôn đánh đập, chửi mắng, xúc phạm chị nhưng để giữ thể diện cho anh, chị đã che giấu gia đình hai bên và hàng xóm. Vợ chồng đã ngồi lại nói chuyện với nhau nhưng vẫn không thể hòa giải được; trong cuộc sống không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, dẫn đến cuộc sống vợ chồng căng thẳng, không hạnh phúc. Vợ chồng anh chị đã ly thân từ tháng 11/2024 đến nay, không chung sống cùng nhau nữa; chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở thôn Đ, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay là thôn Đ, xã Y1, tỉnh Thái Nguyên) sinh sống. Trong thời gian ly thân, chị đã cho anh Hoàng Văn T cơ hội để thay đổi nhưng anh vẫn chứng nào tật nấy, thường xuyên gọi điện nói những lời khó nghe, xúc phạm chị. Kể từ khi ly thân, vợ chồng không còn tình nghĩa vợ chồng, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không tồn tại nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn T.
Về con chung, vợ chồng có 02 người con chung là cháu Hoàng Trọng T1, sinh ngày 24/6/2016 và cháu Hoàng Minh T2, sinh ngày 13/6/2018. Khi ly hôn, chị Lương Thị Mỹ L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung đến khi các con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh Hoàng Văn T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về thu nhập, hiện nay chị đang làm công nhân tại Công ty cổ phần V, có địa chỉ tại khu công nghiệp Đ, tỉnh Bắc Ninh. Thu nhập trung bình hàng tháng được khoảng 10.000.000 đồng, có đủ điều kiện để nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hoàng Văn T không có mặt theo giấy triệu tập, thông báo hòa giải, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần. Kết quả xác minh tại nhà mẹ đẻ của anh Hoàng Văn T ở thôn K, xã Y, tỉnh Lạng Sơn thể hiện: Anh Hoàng Văn T có biết việc chị Lương Thị Mỹ L làm đơn khởi kiện ra Tòa án để xin ly hôn và giải quyết về vấn đề nuôi con. Khoảng tháng 6/2024, vợ chồng anh T, chị L bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T và chị L đều đi làm xa nhà, vợ chồng không còn tin tưởng nhau, nghi ngờ có mối quan hệ tình cảm khác. Khi xảy ra mâu thuẫn, bố mẹ đẻ anh T cũng khuyên nhủ, hòa giải cho anh chị nhưng không thành. Từ tháng 11/2024 âm lịch đến nay, anh T, chị L sống ly thân; chị L chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở tỉnh Thái Nguyên sinh sống.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật, quan điểm đề nghị giải quyết vụ án như sau:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với ý kiến về việc giải quyết vụ án, căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Mỹ L, xử cho chị Lương Thị Mỹ L được ly hôn anh Hoàng Văn T. Giao cho chị Lương Thị Mỹ L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hoàng Trọng T1, sinh ngày 24/6/2016 và cháu Hoàng Minh T2, sinh ngày 13/6/2018 cho đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi; anh Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung, các đương sự không có yêu cầu, không xem xét giải quyết. Về án phí, nguyên đơn chị Lương Thị Mỹ L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Chị Lương Thị Mỹ L có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung nên xác định quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn anh Hoàng Văn T có nơi cư trú tại thôn K, xã Y, tỉnh Lạng Sơn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, các Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số: 85/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án) (sau đây gọi tắt là Bộ luật Tố tụng dân sự); vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn chị Lương Thị Mỹ L vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Hoàng Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai, chứng cứ do đương sự cung cấp và các tài liệu do Toà án thu thập, có đủ cơ sở để xác định: Chị Lương Thị Mỹ L và anh Hoàng Văn T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay là Ủy ban nhân dân xã Y1, tỉnh Thái Nguyên) và tổ chức hôn lễ trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Lương Thị Mỹ L và anh Hoàng Văn T là hoàn toàn hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Trên cơ sở lời khai, các tài liệu do nguyên đơn cung cấp và kết quả xác minh của Tòa án tại nơi cư trú, có đủ cơ sở xác định quá trình chung sống, vợ chồng chị Lương Thị Mỹ L, anh Hoàng Văn T xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống vợ chồng thường xuyên căng thẳng, không hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân, không chung sống cùng nhau, đời sống chung không tồn tại. Vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau.
Điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình, quy định:
“3. “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ chồng sống ly thân,....”
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được; vì vậy, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, cần được chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Lương Thị Mỹ L và anh Hoàng Văn T có 02 con chung là cháu Hoàng Trọng T1, sinh ngày 24/6/2016 và cháu Hoàng Minh T2, sinh ngày 13/6/2018. Quá trình giải quyết, chị Lương Thị Mỹ L thể hiện nguyện vọng mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Xét thấy, thu nhập trung bình hàng tháng của chị Lương Thị Mỹ L được khoảng 12.000.000 đồng, đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu phát triển bình thường như những đứa trẻ khác. Quá trình làm việc tại Tòa án, bố đẻ của chị Lương Thị Mỹ L cũng cam kết sẽ đảm bảo điều kiện về chỗ ở, sinh hoạt cho chị Lương Thị Mỹ L và các con; sẽ hỗ trợ chăm nom các cháu trong thời gian chị đi làm, không có mặt ở nhà. Mặt khác, bị đơn anh Hoàng Văn T thường xuyên vắng nhà; quá trình giải quyết, anh Hoàng Văn T biết chị Lương Thị Mỹ L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các con nhưng anh Hoàng Văn T không có ý kiến gửi về Tòa án, cũng không đến Tòa án để trình bày nguyện vọng của bản thân. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Hoàng Trọng T1 và cháu Hoàng Minh T2 là mong muốn được ở cùng với mẹ.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Quá trình giải quyết, Tòa án đã giải thích việc yêu cầu cấp dưỡng là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, nhưng nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, xét thấy, nguyên đơn cũng có đủ điều kiện về kinh tế để nuôi dưỡng con. Do vậy, Hội đồng xét xử không buộc bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con chung, do nguyên đơn không có yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đối với quan điểm về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đã đưa ra các nhận định, đánh giá phù hợp với đường lối giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị Mỹ L được ly hôn anh Hoàng Văn T.
(Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 23/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay là xã Y1, tỉnh Thái Nguyên)).
2. Về con chung: Chị Lương Thị Mỹ L và anh Hoàng Văn T có 02 con chung là cháu Hoàng Trọng T1, sinh ngày 24/6/2016 và cháu Hoàng Minh T2, sinh ngày 13/6/2018.
Khi ly hôn, giao cho chị Lương Thị Mỹ L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Hoàng Trọng T1 và cháu Hoàng Minh T2 đến khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, khoản nợ chung: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Lương Thị Mỹ L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước. Xác nhận chị Lương Thị Mỹ L đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000725 ngày 30/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND khu vực 4 - Lạng Sơn; - Phòng THADS khu vực 4 - Lạng Sơn; - UBND xã Yên Trạch, tỉnh Thái Nguyên; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Văn Đạt |