- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Hồng và anh Nguyễn Văn Hiệp"
- Tòa quyết gì? 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3 Nghị Quyết 81/2025/UBTVQH15 của uỷ ban thường vụ quốc hội: Thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
| VỰC 3 – THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST Ngày 13 tháng 01 năm 2026 Về việc:“Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Hùng và ông Lê Dũng Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực
3 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Thanh Hóa tham gia phiên
tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hân – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 - Thanh
Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung” thụ lý số 63/2025/TLST- HNGĐ, ngày 18 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXX- ST, ngày 26 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2025/QĐST – HNGĐ, ngày 17 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự.
* Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm: 2007
Số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, do Cục Q về TTXH cấp.
Địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Thanh Hóa
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1998
Số Căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, do do Cục Q về TTXH cấp.
Nơi ĐKTT: Thôn D, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú hiện nay: Nước Hàn Quốc.
Chị H và anh H1 đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 11/8/2025, bản tự khai và các tài liệu có trong
hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn H1 kết hôn với nhau
trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn do UBND xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 03/8/2020. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thơi gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, anh H1 ham chơi, không tu chí làm ăn. Sau khi mâu thuẫn xảy ra gia đình 2 bên đã nhiều lần can thiệp nhưng anh H1 vẫn không thay đổi. Đến tháng 5/2025 mâu thuẫn trầm trọng, chị H về nhà bố mẹ đẻ tại thôn D, xã T, tỉnh Thanh Hóa sinh sống, không ai quan tâm đến ai, cuộc sông của ai người đó tự lo. Nay chị H xét thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn tiếp tục đoàn tụ được nữa nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn và anh Nguyễn Văn H1.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Minh K, sinh ngày
15/12/2020. Hiện cháu đang ở cùng chị N tại thôn G, xã T, tỉnh Thanh Hóa, cháu đang còn đi học, khỏe mạnh, phát triển tốt. Nay ly hôn nguyện vọng của chị N là được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh K
Về phần cấp dưỡng, đóng góp nuôi con chung: Không yêu cầu anh Nguyễn
Văn H1 phải cấp dưỡng, đóng góp nuôi con chung.
Hiện nay chị H đang làm việc tại công ty I địa chỉ tại xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Mức thu nhập hàng tháng là 8.000.000đ. Sau khi ly hôn chị H sống chung với bố mẹ đẻ tại thôn D, xã T, tỉnh Thanh Hóa, ông bà còn trẻ khỏe, minh mẫn, sức khỏe tốt nên có thể giúp đỡ chị chăm sóc cháu K những lúc chị bận công việc
- Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Văn H1 không có mặt tại Việt Nam và không có địa
chỉ cụ thể ở nước H .
Tại biên bản xác minh ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị L (là bố mẹ đẻ
của anh Nguyễn Văn H1) trình bày:
Anh Nguyễn Văn H1 và chị Trần Thị H kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn
vợ chồng anh H1 sống cùng gia đình nhà chồng, quá trình chung sống không xảy ra mâu thuẫn gì, sau khi anh H1 đi xuất khẩu lao động được một thời gian thì khoảng tháng 5 năm 2025 chị H và con đã về nhà bố mẹ đẻ sống, còn nguyên nhân vì sao chị H làm đơn xin ly hôn thì gia đình không biết.
Quá trình chung sống chị H và anh H1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh
K, sinh ngày 15/12/2020. Hiện tại cháu đang sống cùng chị N tại gia đình bố mẹ đẻ chị N.
Cuối năm 2024 anh H1 đã đi xuất khẩu lao động tại nước Hàn Quốc, hiện tại
gia đình không có địa chỉ cụ thể của anh H1 ở nước Hàn Quốc, gia đình chỉ liên lạc với anh H1 qua điện thoại. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H gia đình đã nhận đầy đủ các thông báo, quyết định của Tòa án và đã thông báo cho anh H1 biết về yêu cầu khởi kiện của chị H, tuy nhiên anh H1 không có ý kiến gì. Nay đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại biên bản xác minh đại diện Ủy ban nhân dân xã T cung cấp thông tin: Anh
Nguyễn Văn H1 và chị Trần Thị H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 03/8/2020. Quá trình vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn hay không địa phương không nắm được vì vợ chồng không báo cáo nhờ các cơ quan đoàn thể hòa giải mâu thuẫn của vợ chồng. Hiện tại chị H và con đã về nhà bố mẹ đẻ tại thôn D, xã T, tỉnh Thanh Hóa sinh sống.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày
15/12/2020, hiện nay cháu đang sống cùng chị H tại nhà bố mẹ đẻ chị H, cháu khỏe mạnh, phát triển tốt, không bị đánh đập, bạo hành và được học tập đầy đủ.
Về điều kiện nuôi con của chị H: Chị H có sức khỏe và làm nghề lao động tự
do, thu nhập cụ thể bao nhiêu địa phương không nắm được.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- Về tuân theo pháp luật: Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tiến
hành các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Quan điểm giải quyết vụ án:
+ Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 57 Luật hôn
nhân và gia đình, xử chấp nhận cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1.
+ Về con chung: Căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao
cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/12/2020 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con
chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về tài sản và công nợ: Chị H không yêu cầu nên không xem xét.
+ Về án phí: Chị H2 chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Văn H1 hiện tại đang sinh sống tại nước Hàn
Quốc, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Thanh Hóa theo quy định tại Điều 3 Nghị Quyết 81/2025/UBTVQH15 của uỷ ban thường vụ quốc hội: Thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.
Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn: Chị Trần Thị H cung cấp địa
chỉ nơi cư trú trước khi xuất cảnh của anh H1 ở Việt Nam, địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Thanh Hóa, không cung cấp được địa chỉ của anh H1 ở tại nước Hàn Quốc. Gia đình anh H1 thường xuyên liên lạc bằng mạng xã hội, điện thoại với anh H1, nhưng không biết địa chỉ cụ thể nơi làm việc, sinh sống của anh H1 tại Hàn Quốc.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định tố
tụng cho anh H1 thông qua ông Nguyễn Văn P là bố đẻ của anh Nguyễn Văn H1, đồng thời niêm yết các văn bản tố tụng tại Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Thanh Hóa là nơi gia đình anh H1 đang sinh sống; gia đình anh Hiệp đồng Ý nhận văn bản, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Thanh Hóa và đã thông báo đầy đủ thông tin cho anh H1 biết, nhưng anh H1 không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi ý kiến cho Tòa án.
Anh Nguyễn Văn H1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ lần thứ 2 các văn bản
tố tụng, nhưng anh H1 vắng mặt tại phiên tòa; chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Văn H1 kết hôn trên cơ sở
tự nguyện, có đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 03/8/2020. Nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thơi gian ngắn
thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vả, sống không có hạnh phúc. Tháng 12 năm 2024 anh H1 đi xuất khẩu lao động tại nước Hàn Quốc, khi đi không thông báo cho chị H biết địa chỉ hiện nay của anh H1 tại Hàn Quốc. Đến tháng 5/2025 mâu thuẫn trầm trọng, chị H về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, không ai quan tâm đến ai, cuộc sông của ai người đó tự lo. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Xét thấy yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở, căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn
nhân và gia đình xử cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1.
Về con chung: Vợ chồng có Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/12/2020.
Hiện nay cháu K đang sống cùng chị H, nguyện vọng của chị H là được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K.
Xét thấy: Hiện nay anh H1 đang làm việc và sinh sống ở nước Hàn Quốc,
chị H đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, cháu phát triển tốt, đảm bảo về mọi mặt, do đó tiếp tục giao cháu K cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi
con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
.
Về tài sản, công nợ: Chị Trần Thị H không yêu cầu giải quyết, nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lý lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 ,
238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 3 Nghị Quyết 81/2025/UBTVQH15 của uỷ ban thường vụ quốc hội: Thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực.
Điều 51, Điều 56, 57, điều 81; điều 82; điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia
đình; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn
H1.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh K, sinh ngày 15/12/2020 cho chị
Trần Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Anh Nguyễn Văn H1 được quyền thăm nom con chung không ai được cản
trở. 3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000270, ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng
cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận : -Tòa án tỉnh Thanh Hóa; - VKS Khu vực 3 – Thanh Hóa; - Thi hành án DS tỉnh Thanh Hóa; - UBND xã Thiệu Toán; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vu án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THÂM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa. Lê Thị Lan |