vanban.org

Bản án 03/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Đinh Thị P và bị đơn anh Nguyễn Ánh D.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị P và anh Nguyễn Ánh D. Quan hệ hôn nhân giữa chị Đinh Thị P và anh Nguyễn Ánh D chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Quốc K, sinh ngày 29/08/2009 cho anh Nguyễn Ánh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Đinh Thị P và bị đơn anh Nguyễn Ánh D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HNGĐ - ST
Ngày 08 - 01 – 2026
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Trọng Thủy và ông Thái Thiên Lương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị xét xử công khai vụ án thụ lý số 81/2025/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị P, sinh năm 1986

Nơi cư trú: Thôn 3 Bắc S, xã Tuyên L, tỉnh Quảng Trị. Chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ánh D, sinh năm 1976.

Nơi cư trú: Thôn 4 Bắc S, xã Tuyên L, tỉnh Quảng Trị. Anh Dương có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Đinh Thị Phương trình bày:

Chị và anh Nguyễn Ánh Dương có quá trình tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 08/12/2003 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã Tuyên Lâm, tỉnh Quảng Trị). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình nội được một thời gian thì hai vợ chồng làm nhà ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2010 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị Phương nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Hà Ny, sinh ngày 03/01/2004 và Nguyễn Quốc Khánh, sinh ngày 29/8/2009. Sau khi ly hôn, chị Phương có nguyện vọng giao con chung Nguyễn Quốc Khánh cho anh Nguyễn Ánh Dương trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, vì hiện tại chị đang đi làm ăn xa, đồng thời lâu nay cháu sinh sống ổn định cùng anh Dương. Chị Phương đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Đối với con chung Nguyễn Thị Hà Ni đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên muốn ở với ai là tùy nguyện vọng của con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đinh Thị Phương trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Ánh Dương trình bày:

Anh và chị Đinh Thị Phương tự nguyện yêu nhau và hai bên gia đình đã tổ chức lễ cưới nhưng anh Dương cho rằng chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn. Việc chị Phương làm đơn ly hôn thì tùy chị Phương, nếu đúng anh chị đăng ký kết hôn có trên hệ thống lưu trữ của Uỷ ban nhân dân xã thì chị Phương làm đơn xin ly hôn, anh Dương cũng đồng ý ly hôn vì vợ chồng không còn tình cảm, chị Phương bỏ đi từ năm 2011, hai vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Hà Ny, sinh ngày 03/01/2004 và Nguyễn Quốc Khánh, sinh ngày 29/8/2009. Sau khi ly hôn, anh Dương có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung vì một mình anh nuôi hai con từ nhỏ và hai con sinh sống ổn định cùng anh Dương. Anh Dương không yêu cầu chị Phương đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Ánh Dương trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 13/11/2025, Uỷ ban nhân dân xã Tuyên Lâm, tỉnh Quảng Trị cung cấp thông tin như sau: Qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn, cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và các quy định của luật Hôn nhân và gia đình. Ủy ban nhân dân xã Tuyên Lâm nhận thấy ngày 08/12/2003 anh Dương và chị Phương đã đến Uỷ ban nhân dân xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã Tuyên Lâm, tỉnh Quảng Trị) làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Uỷ ban nhân dân xã Tuyên Lâm đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 45/2003 ngày 08 tháng 12 năm 2003.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Quảng Trị phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51, 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Đề nghị xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Đinh Thị Phương và bị đơn anh Nguyễn Ánh Dương.

2. Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Phương và anh Nguyễn Ánh Dương.

3. Về quan hệ con chung: Đề nghị giao con chung Nguyễn Quốc Khánh, sinh ngày 29/8/2009 cho anh Nguyễn Ánh Dương trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đinh Thị Phương phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Dương mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 01/2026 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân. Đối với con chung Nguyễn Thị Hà Ni đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động và tự nuôi sống bản thân nên con muốn ở với ai là tùy nguyện vọng của con.

Về tài sản chung, nợ chung: Đề nghị không xem xét.

Về án phí: Chị Đinh Thị Phương phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị Phương và bị đơn anh Nguyễn Ánh Dương làm đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt, lý do công việc ở xa đi lại khó khăn nên không thể trực tiếp đến Tòa án giải quyết ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Chị Đinh Thị Phương khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Ánh Dương, cư trú tại thôn 4 Bắc Sơn, xã Tuyên Lâm, tỉnh Quảng Trị, đây là vụ án “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Vì vậy, Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Trị thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị Phương và bị đơn anh Nguyễn Ánh Dương có đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Đinh Thị Phương và anh Nguyễn Ánh Dương có quá trình tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 08/12/2003 tại Giấy chứng nhận kết hôn số 45/2003 của Ủy ban nhân dân xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (Nay là xã Tuyên Lâm, tỉnh Quảng Trị) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng từ năm 2011 đến nay, cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẩn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cãi vã. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị Phương giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh Dương và anh Dương cũng đồng ý ly hôn với lý do tình cảm vợ chồng không còn. Xét trình bày của các bên đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẩn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Phương xin ly hôn, anh Dương cũng đồng ý ly hôn. Vì vậy, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị Phương và anh Nguyễn Ánh Dương.

Về quan hệ con chung:

Chị Đinh Thị Phương và anh Nguyễn Ánh Dương thống nhất quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Hà Ni, sinh ngày 03/04/2004 và Nguyễn Quốc Khánh, sinh ngày 29/08/2009. Sau khi ly hôn, chị Phương có nguyện vọng giao con chung Nguyễn Quốc Khánh cho anh Dương trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và chị cấp dưỡng tiền nuôi con cùng anh Dương mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con chung trưởng thành. Anh Dương cũng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu chị Phương cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con, vì vậy giao con chung Nguyễn Quốc Khánh cho anh Nguyễn Ánh Dương trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị Đinh Thị Phương có nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Dương mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 01/2026 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nuôi sống bản thân là phù hợp với nguyện vọng của con, hai bên đương sự, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, điều kiện thực tế của các bên và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Đối với con chung Nguyễn Thị Hà Ni đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động và tự nuôi sống bản thân nên con muốn ở với ai là tùy nguyện vọng của con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đinh Thị Phương và anh Nguyễn Ánh Dương thống nhất quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Đinh Thị Phương phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo định kỳ, để sung vào công quỹ Nhà nước. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Phương đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000821 ngày 14 tháng 10 năm 2025. Chị Đinh Thị Phương phải nộp thêm 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 55; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Đinh Thị P và bị đơn anh Nguyễn Ánh D.

2. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị P và anh Nguyễn Ánh D. Quan hệ hôn nhân giữa chị Đinh Thị P và anh Nguyễn Ánh D chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

3. Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Quốc K, sinh ngày 29/08/2009 cho anh Nguyễn Ánh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Buộc chị Đinh Thị P phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Dương mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), kể từ tháng 01/2026, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Đối với con chung Nguyễn Thị Hà Ni đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động và tự nuôi sống bản thân nên con muốn ở với ai là tùy nguyện vọng của con.

Bên không trực tiếp nuôi con chung được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Hoặc nhận thấy người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và tiền cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

5. Về án phí: Chị Đinh Thị P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo định kỳ, để sung vào công quỹ Nhà nước. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Phương đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000821 ngày 14 tháng 10 năm 2025. Chị Đinh Thị Phương phải nộp thêm 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ