vanban.org

Bản án 03/2026/HC-ST — Hành chính

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Lê Sĩ T"
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 153 Luật Đất đai; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HC-ST
Ngày 26/6/2026
V/v khiếu kiện Quyết định hành
chính trong lĩnh vực đất đai,
thuộc trường hợp hỗ trợ tái định
cư khi giải phóng mặt bằng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Tỷ

Bà Nguyễn Thị Văn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Quốc Chương là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Cẩm Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 12/2025/TLST-HC ngày 04 tháng 11 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp hỗ trợ tái định cư khi giải phóng mặt bằng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 07/2026/QĐXXST-HC ngày 04/5/2026, của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng đối với giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Lê Sĩ T, sinh năm 1964; địa chỉ: Tổ dân phố A, phường Đ, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: Đường P, phường B, tỉnh Lâm Đồng;

Đại diện ủy quyền: Ông Võ Hoàng S – Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Lâm Đồng; địa chỉ: Đường P, phường B, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ dân phố A, phường Đ, tỉnh Lâm Đồng;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Sĩ T, sinh năm 1964; địa chỉ: tổ dân phố A, phường Đ, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Ông Nguyễn Trung T2, sinh năm 2000, CCCD số: 06700000360; địa chỉ: Tổ dân phố A, B, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/10/2025 và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Lê Sĩ T trình bày:

Năm 1992 gia đình ông T được Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Đắk Lăk cấp 01 thửa đất 211,5m², nội dung cấp là cấp đất làm nhà ki-ốt. Sau khi được cấp gia đình ông T làm nhà ở cấp 4A diện tích khoảng 175m², nhà xây kết cấu bê tông, mái lợp tôn, các công trình phụ khép kín trên tổng diện tích đất 221,5m². Nhà đất sau khi tách tỉnh có địa chỉ tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Gia đình ông T sinh sống ổn định, thời điểm tách tỉnh Đắk Nông năm 2004, sang năm 2005 gia đình ông T làm thủ tục cấp giấy CNQSD đất theo quy định, tuy nhiên cơ quan đăng ký cấp bìa đỏ trả lời bằng miệng cho ông T là nhà đất ông T nằm trong quy hoạch xây dựng Quảng trường trung tâm tỉnh Đắk Nông nên thửa đất chưa được cấp giấy CNQSD đất theo quy định của Luật Đất đai. Trong căn nhà của gia đình ông T có 02 hộ đang sinh sống, vợ chồng ông T, vợ chồng con gái và cháu ngoại, gia đình ông không có nơi ở nào khác.

Cuối tháng 3/2022, gia đình ông T nhận được Thông báo số 46/TB-UBND ngày 04/3/2022 về việc “Điều chỉnh thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở trung tâm thành phố G" và Quyết định số 335/QĐ- UBND ngày 11/3/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G (U), tỉnh Đắk Nông về việc “Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (đợt 1) dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu Trung tâm thành phố G, địa điểm: Phường N, TP G, tỉnh Đăk Nông", kèm theo bản chi tiết bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Gia đình ông T được hỗ trợ 01 lô tái định cư, gia đình ông T đã bốc thăm, đóng các khoản tiền theo quy định, tháng 8/2022 được U cấp giấy CNQSD đất số DE 384704, số thửa CNP2, tờ bản đồ số 02.021, diện tích 168,3 m2, địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng), ông T đã chuyển nhượng thửa đất này cho ông Nguyễn Trung T2, địa chỉ phường B, tỉnh Lâm Đồng.

Do Quyết định 335/QĐ-UBND ngày 11/3/2022 bồi thường hỗ trợ chưa đúng quy định của pháp luật về việc bồi thường giá trị quyền sử dụng đất, bố trí tái định cư nên ông T đã khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại Bản số 07/2023/HC-ST ngày 24/02/2023 của TAND tỉnh Đắk Nông và bản án số 209/2024/HC-PT ngày 22/3/2024 của TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh đã chấp nhận 01 phần nội dung khởi kiện của ông T cụ thể:

- Buộc UBNDTP G, tỉnh Đăk Nông phải phê duyệt phương án bổ sung bồi thường đất ở theo diện tích đã thu hồi 221,5m2 đất của ông Lê Sĩ T tại tổ dân phố A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

- Không chấp nhận việc yêu cầu bố trí tái định cư cho Nguyễn Đức T3 và Lê Anh T4.

Không hiểu vì lý do gì UBND Thành phố G ra Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 06/8/2024 của U, tỉnh Đắk Nông về việc thu hồi một phần giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp ông Lê Sĩ T, dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu Trung tâm Thành phố G, ngày 30/10/2024 U ban hành quyết định số 1817/QĐ- UBND hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư đối với ông Lê Sĩ T tại Quyết định số 782/QĐ-UBND ngày 04/7/2022 của U.

Từ những nội dung nêu trên, Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024 của U, tỉnh Đắk Nông (nay là UBND phường B, tỉnh Lâm Đồng) về việc hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư đối với ông Lê Sĩ T tại Quyết định số 782/QĐ-UBND ngày 04/7/2022 của U và Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 06/8/2024 của U, tỉnh Đăk Nông về việc thu hồi một phần giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp ông Lê Sĩ T, dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu T làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông T.

Nay ông T làm đơn khởi kiện này, yêu cầu TAND khu vực 6 – tỉnh Lâm Đồng thụ lý giải quyết, tuyên hủy Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024 của U, tỉnh Đăk Nông về việc hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư đối với ông Lê Sĩ T tại Quyết định số 782/QĐ-UBND ngày 04/7/2022 của UBND Thành phố G và Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 06/8/2024 của U, tỉnh Đăk Nông về việc thu hồi một phần giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp ông Lê Sĩ T, dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu T Thành phố G.

Đại diện ủy quyền của bị đơn trình bày:

Nội dung vụ việc có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với hộ ông Lê Sĩ T thuộc dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu Trung tâm thành phố G (thời điểm ban hành các quyết định trước đây thuộc thẩm quyền Ủy ban nhân dân thành phố G, tỉnh Đắk Nông).

Các văn bản, quyết định được xác định có liên quan trực tiếp đến nội dung phản ánh/đề nghị của ông Lê Sĩ T gồm (nêu đúng cơ quan ban hành, không viết tắt): Quyết định số 984/QĐ-UBND ngày 09/8/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc phê duyệt Kế hoạch điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm để xây dựng dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu trung tâm thành phố G. Quyết định số 1739/QĐ-UBND ngày 29/11/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc phê duyệt giá đất cụ thể làm căn cứ tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất xây dựng dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu T thành phố G. Quyết định số 331/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 1739/QĐ- UBND ngày 29/11/2021 của Ủy ban nhân dân thành phố G. Quyết định số 335/QĐ-UBND ngày 11/3/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (đợt 1) dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu trung tâm thành phố G.

Quyết định số 479/QĐ-UBND ngày 12/4/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc đính chính Quyết định số 335/QĐ-UBND ngày 11/3/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G. Quyết định số 1189/QĐ-UBND ngày 23/9/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc thu hồi và hủy bỏ một phần Quyết định số 335/QĐ- UBND ngày 11/3/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G. Quyết định số 782/QĐ-UBND ngày 04/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc phê duyệt kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư tại Khu tái định cư phía Đông, Hồ Trung T5.

Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 06/8/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc thu hồi một phần giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp ông Lê Sĩ T, dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu T thành phố G. Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố G về việc hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư đối với ông Lê Sĩ T tại Quyết định số 782/QĐ-UBND ngày 04/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G. Báo cáo số 191/BC-QLDA&PTQĐ ngày 09/9/2024 của Ban Quản lý dự án và Phát triển quỹ đất thành phố G về quá trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với hộ ông Lê Sĩ T. Công văn số 48/UBND-VP ngày 01/2/2024 của Ủy ban nhân dân phường N về việc xác nhận bổ sung hồ sơ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu trung tâm thành phố G (theo nội dung đã được viện dẫn tại Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 06/8/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố G).

Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông. Bản án hành chính phúc thẩm số 209/2024/HC-PT ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. cấp II. Vai trò, phạm vi thông tin Ủy ban nhân dân phường B cung 1. Các quyết định nêu trên (đặc biệt: Quyết định số 335/QĐ-UBND ngày 11/3/2022, Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 06/8/2024 và Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024) là các văn bản do Ủy ban nhân dân thành phố G ban hành, không phải do Ủy ban nhân dân phường B ban hành.

Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố G, trong đó quyết định hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư của hộ ông Lê Sĩ T tại Quyết định số 782/QĐ-UBND ngày 04/7/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G; lý do hủy được nêu rõ: thực hiện theo khoản 2 Điều 1 Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 06/8/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố G.

Đối với các nội dung thuộc nội dung xét xử tại Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 24/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông và Bản án hành chính phúc thẩm số 209/2024/HC-PT ngày 22/3/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, tôi xác định đây là nội dung thuộc thẩm quyền giải quyết và đánh giá của Tòa án; Ủy ban nhân dân phường T7 phối hợp cung cấp tài liệu khi được yêu cầu, không có ý kiến gì.

Ông S xác nhận các thông tin nêu trên được trình bày theo tài liệu/ hồ sơ hiện có của cơ quan và các văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành mà ông S được tiếp cận phục vụ việc cung cấp cho Tòa án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Ngày 24/8/2022 ông Nguyễn Trung T2 nhận chuyển nhượng của ông Lê Sĩ T và bà Nguyễn Thị Tuyết T6 đất số CNP2, tờ bản đồ số 02-2021, diện tích 168,3 m², địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng). Khi nhận chuyển nhượng thì thửa đất trên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Lê Sĩ T và bà Nguyễn Thị T1, thửa đất không có tranh chấp với ai, hai bên đã thực hiện xong thủ tục chuyển nhượng, ông Lê Sĩ T và bà Nguyễn Thị T1 đã nhận đủ tiền chuyển nhượng và ông Nguyễn Trung T2 đã nhận đất trên thực địa và giấy chứng nhận đã được sang tên cho ông Nguyễn Trung T2. Trong vụ án ông Lê Sĩ T đang khởi kiện Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Lâm Đồng thì ông Nguyễn Trung T2 không có yêu cầu gì trong vụ án này, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Do công việc bận rộn nên ông Nguyễn Trung T2 đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông tại Tòa án các cấp.

Bà Nguyễn Thị T1 là vợ của ông Lê Sĩ T, bà T1 có lời trình bày thống nhất với ông T, không bổ sung nội dung gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 3 Điều 31; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính; Điều 75, Điều 153 Luật Đất đai năm 2013 đề nghị H ĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Sĩ T: Hủy Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024 của U, tỉnh Đăk Nông về việc hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư đối với ông Lê Sĩ T tại Quyết định số 782/QĐ-UBND ngày 04/7/2022 của UBND Thành phố G và Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 06/8/2024 của U, tỉnh Đăk Nông về việc thu hồi một phần giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp ông Lê Sĩ T, dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu T Thành phố G.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Lê Sĩ T khởi kiện Quyết định hành chính số Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024 của UBND thành phố G, tỉnh Đắk Nông về việc hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư đối với ông Lê Sĩ T tại Quyết định số 782/QĐ-UBND ngày 04/7/2022 của UBND thành phố G, tỉnh Đắk Nông và Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 06/8/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố G, tỉnh Đắk Nông. Căn cứ Điều 31Luật Tố tụng hành chính, xác định thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng. Quyết đinh hành chính thuộc lĩnh vực đất nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp hỗ trợ tái định cư khi giải phóng mặt bằng”.

[2]. Về thời hiệu khởi kiện: Quyết định hành chính số Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024 của UBND thành phố G, ngày 18/10/2025, ông Lê Sĩ T yêu cầu khởi kiện là trong thời hiệu quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

[3].Về nội dung vụ án yêu cầu khởi kiện:

[3.1]. Hộ gia đình ông T bị hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư tại Quyết định số 782/QĐ-UBND ngày 04/7/2022 của U:

Cuối tháng 3/2022 gia đình ông T nhận được Thông báo số 46/TB-UBND ngày 04/3/2022 về việc “Điều chỉnh thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở trung tâm thành phố G" và Quyết định số 335/QĐ- UBND ngày 11/3/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố G (U), tỉnh Đắk Nông về việc “Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (đợt 1) dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu Trung tâm thành phố G, địa điểm: Phường N, TP G, tỉnh Đăk Nông", kèm theo bản chi tiết bồi thường hỗ trợ và tái định cư.

Tại Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024 của U, tỉnh Đăk Nông về việc hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư đối với ông Lê Sĩ T.

Ông T không đồng ý nên các bên đương sự đã phát sinh tranh chấp.

[3.2]. Xét thấy:

Về hình thức, thẩm quyền: Quyết định hành chính số 1817/QĐ- UBND ngày 30/10/2024 của UBND thành phố G ban hành là đúng hình thức, đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Ngày 20-10-1992, UBND thị trấn G, huyện Đ, tỉnh Đăk Lăk cấp giấy chứng nhận quyền quản lý sử dụng đất nhà ki ốt cho ông Lê Sĩ T tại thôn N, diện tích 211,5m2, có tứ cận kèm theo.Thực tế gia đình ông Lê Sĩ T sử dụng 221,5m2 đất.

Sau khi được cấp đất, gia đình ông T xây dựng nhà cấp IV và sân xi măng 22,2m2 trên toàn bộ diện tích đất. Ông T thực hiện các khoản đóng góp nghĩa vụ với địa phương từ trước đến nay, số hộ khẩu gia đình và cấp lại lần 01 ngày 15-8-2016 bao gồm Lê Sĩ T, Lê Anh T4 (con gái) và Nguyễn Đức T3 (con rể), cháu Nguyễn Thiện P- sinh ngày 08-4-2019 được nhập khẩu ngày 19-7-2019.

Ngày 11-3-2022, UBND thành phố G ban hành Quyết định số 34/QĐ-UBND thu hồi 221,5 m2 đất thương mại dịch vụ của hộ ông Lê Sĩ T là toàn bộ thửa đất mà ông T sử dụng. Sau đó, ban hành Quyết định số: 335/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Lê Sĩ T, theo đó hộ ông Lê Sĩ T được giao 01 lô đất tái định cư.

Ông T đã nộp thuế với số tiền là 687.000.600đ vào Ngân sách nhà nước và hoàn thành các thủ tục khác. Đến ngày 08/8/2022, ông Lê Sĩ T và bà Nguyễn Thị T1 được cấp GCNQSDĐ thửa đất số CNP 2, tờ bản đồ số 02-2021, địa chỉ tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

Ngày 24/8/2022, ông T, bà T1 đã làm hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Nguyễn Trung T2. Ông T2 đã hoàn thành xong thủ tục chuyển nhượng và đứng tên trên GCNQSDĐ ngày 15/9/2022.

[3.3]. Xét lý do thu hồi lô đất tái định cư cấp cho hộ ông Lê Sĩ T của U ông T đã cho cho ông D thuê nhà. Mặc dù, Uỷ ban cũng xác định ông T không có nơi ở nào khác trên địa bàn phường N tại thời điểm thu hồi và diện tích đất bị thu hồi toàn bộ nhưng ông T không được hưởng chính sách cấp tái định cư theo quy định tại Điều 28 của Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND ngày 22/01/2021 của UBND tỉnh Đ quy định cụ thể một số nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đăk Nông.

Theo lời khai của ông T thì ông và vợ cùng các con vẫn ở phần phía sau quán cà phê và không có nơi ở nào khác trên địa bàn phường N.

Theo kết quả xác minh, ông Đoàn Văn D là người thuê nhà đất của ông Lê Sĩ T bán quán cà phê đến tháng 3/2022, nhà nước thu hồi đất nên ông D ngừng kinh doanh. Hộ ông T không có nơi ở nào khác trên địa bàn phường N.

Như vậy, có việc hộ gia đình ông T đã bị nhà nước thu hồi hết đất ở mà hộ ông T không có nơi ở nào khác trên địa bàn phường N tại thời điểm thu hồi thì hộ ông T được cấp tái định cư theo quy đinh tại khoản 1 Điều 28 Quyết định 03/2021/QĐ-UBND ngày 22/01/2021. Quy định này không thể hiện thực tế hộ ông T có ở trên đất không. Trong khi lời khai của ông T thể hiện gia đình ông vẫn ở phòng phía sau, phần mặt tiền ông T cho ông D thuê làm quán. Nội dung này, tại thời điểm thu hồi không được UBDN phường N xác minh làm rõ mà chỉ “xác định hộ ông T không có nơi ở khác trên địa bàn”. Trong khi, vì hoàn cảnh gia đình và nhu cầu sử dụng ông T có quyền sử dụng phần nhà của mình để cho thuê kiếm thêm thu nhập, nội dung này pháp luật không cấm. Do đó, đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28 Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND ngày 22/01/2021 thì hộ ông T được bố trí 01 lô tái định cư là phù hợp với quy định của pháp luật.

Điều 28 Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND ngày 22/01/2021 của UBND tỉnh Đ quy định cụ thể một số nội dung bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đăk Nông. Các trường hợp được giao đất tái định cư:

1. Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do thu hồi hết đất ở hoặc diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh (nhỏ hơn diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định) mà hộ gia đình, cá nhân không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.

…..

Mặc khác, để được cấp GCNQSDĐ ông T, bà T1 đã nộp thuế sử dụng đất với số tiền 687.000.600đ đến ngày 08/8/2022 được cấp GCNQSDĐ. Tức là, ông T ngoài mất 211,5m2 đất mặt tiền đường quốc lộ cùng căn nhà cấp 4 đang còn giá trị sử dụng, ông còn bỏ ra khoảng tiền khá lớn để có được diện tích 168,3 m2, địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông (nay là phường B, tỉnh Lâm Đồng). Tuy nhiên, trong quyết định thu hồi cũng không xem xét số tiền thuế mà ông T, bà T1 đã nộp.

Ngoài ra, ông T, bà T1 đã chuyển nhượng đất cho ông Nguyễn Trung T2, ông T2 đã hoàn thành xong thủ tục sang tên và đứng tên trên GCNQSDĐ.

Vì thế, Quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân thành phố G không giải quyết hậu quả của Quyết định thu hồi, không xem xét toàn diện đến quy định của pháp luật, đánh giá trên một phần thực tế tại thời điểm thu hồi và ảnh hưởng đến quyền lợi cho người thứ ba ngay tình là ông Nguyễn Trung T2.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ pháp lý chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Sĩ T và theo đề nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Sĩ T, hủy Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024 của U, tỉnh Đăk Nông về việc hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư đối với ông Lê Sĩ T.

[3]. Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận, quyết định hành chính bị hủy nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật; ông Lê Sĩ T thuộc diện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không xem xét về phần tiền tạm ứng án phí.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; Điều 31; điểm a khoản 3 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 75, Điều 153 Luật Đất đai năm 2013.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Sĩ T đối với Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024 của U, tỉnh Đăk Nông về việc hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư đối với ông Lê Sĩ T.

Hủy Quyết định số 1817/QĐ-UBND ngày 30/10/2024 của U, tỉnh Đăk Nông về việc hủy kết quả bốc thăm nhận đất tái định cư đối với ông Lê Sĩ T tại Quyết định số 782/QĐ-UBND ngày 04/7/2022 của UBND Thành phố G và Quyết định số 1437/QĐ-UBND ngày 06/8/2024 của U, tỉnh Đăk Nông về việc thu hồi một phần giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp ông Lê Sĩ T, dự án: Di dời, tái định cư cho 212 hộ dân ở khu T Thành phố G.

2. Về án phí sơ thẩm:

Buộc Ủy ban nhân dân phường B phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hành chính sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ