- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng T - Trần Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T đối với ông Trần Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2026/DS-ST Ngày 16 tháng 01 năm 2026 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A- CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhi
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Nhạn
Bà Cao Thị Mỹ Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Loan – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực A- Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực A- Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 613/2026/TLST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2025/QĐST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng T (V). Địa chỉ trụ sở: Số 89, đường L, phường Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Chí Dũng: Ông Đỗ Thành T - Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Xử lý nợ Pháp lý khách hàng cá nhân (theo Văn bản ủy quyền số: 30/2025/UQN-CTQT ngày 28 tháng 7 năm 2025).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đỗ Thành Trung: Ông Bùi Văn S - Chức vụ: Trưởng bộ phận Xử lý nợ và ông Nguyễn Thanh P - Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ (theo Văn bản ủy quyền số: 20297/2025/UQ-VPB ngày 26 tháng 8 năm 2025 - vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh ngày 30 tháng 6 năm 1995. Địa chỉ: Khóm 9, phường L, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 26 tháng 8 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng T và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 30 tháng 11 năm 2023 giữa Ngân hàng T và ông Trần Văn Đ có ký kết với nhau Hợp đồng cho vay số: LD2333400433, theo đó ông Đ vay của Ngân hàng số tiền là 81.500.000 đồng, mục đích vay là phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng, thời hạn vay là 60 tháng, tính từ ngày giải ngân (ngày 30 tháng 11 năm 2023) đến ngày 15 tháng 11 năm 2028. Vay không có đảm bảo bằng tài sản. Lãi suất vay trong hạn là 23%/năm.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Trần Văn Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 16 tháng 01 năm 2026 ông Đ nợ Ngân hàng tổng số tiền là 134.402.766 đồng (trong đó nợ gốc là 81.500.000 đồng, lãi là 52.902.766 đồng).
Nay Ngân hàng yêu cầu ông Đ phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ khoản nợ nêu trên cùng tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt nợ và phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Trần Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T, buộc ông Trần Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng với số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16 tháng 01 năm 2026) tổng cộng là 134.402.766 đồng (trong đó nợ gốc là 81.500.000 đồng, lãi là 52.902.766 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 17 tháng 01 năm 2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng vay đã ký. Ông Đ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn Đ trả nợ vay theo hợp đồng đã ký kết. Ông Đ có địa chỉ tại Khóm 9, phường Láng Tròn, tỉnh Cà Mau. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực A- Cà Mau.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng T và ông Đ ký kết Hợp đồng vay, mục đích vay là phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về các phiên họp, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông Đ đều vắng mặt không có lý do. Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng là ông Nguyễn Thanh Phương có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T về việc yêu cầu ông Đ trả nợ theo hợp đồng vay đã ký kết, Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 30 tháng 11 năm 2023 giữa Ngân hàng T và ông Trần Văn Đ có ký kết với nhau Hợp đồng cho vay số: LD2333400433, theo đó ông Đ vay của Ngân hàng số tiền là 81.500.000 đồng, mục đích vay là phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng người vay tín dụng, thời hạn vay là 60 tháng, tính từ ngày giải ngân (ngày 30 tháng 11 năm 2023) đến ngày 15 tháng 11 năm 2028. Vay không có đảm bảo bằng tài sản. Lãi suất vay trong hạn là 23%/năm. Do đó, căn cứ điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16 tháng 01 năm 2026) ông Đ nợ Ngân hàng tổng số tiền là 134.402.766 đồng (trong đó nợ gốc là 81.500.000 đồng, lãi là 52.902.766 đồng). Xét thấy, hợp đồng tín dụng được ký kết đúng theo quy định pháp luật. Ông Đ không chứng minh được là ông đã thực hiện xong nghĩa vụ đối với Ngân hàng nên việc Ngân hàng yêu cầu ông Đ trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kể từ ngày 17 tháng 01 năm 2026, ông Đ còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với yêu cầu của Ngân hàng được Tòa án chấp nhận là: 134.402.766 đồng x 5% = 6.720.138 đồng. Ngân hàng không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cà Mau là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T đối với ông Trần Văn Đ.
2. Buộc ông Trần Văn Đ có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng T số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 16 tháng 01 năm 2026) là 134.402.766 đồng (trong đó nợ gốc là 81.500.000 đồng, lãi là 52.902.766 đồng).
3. Kể từ ngày 17 tháng 01 năm 2026, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng vay các bên có thỏa thuận về lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng cho vay.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Trần Văn Đ phải nộp 6.720.138 đồng. Ngân hàng T không phải chịu án phí, Ngân hàng T đã nộp tạm ứng án phí là 2.900.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004394 ngày 11 tháng 11 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau nên được hoàn toàn bộ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Án xử công khai, đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND khu vực A – Cà Mau; - THADS tỉnh Cà Mau; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Kim Nhi |