vanban.org

Bản án 03/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Ma Thị L. Buộc anh Đặng Thế H có nghĩa vụ trả cho bà Ma Thị L tổng số tiền là 148.

Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bản án dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Ma Thị L. Buộc anh Đặng Thế H có nghĩa vụ trả cho bà Ma Thị L tổng số tiền là 148.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/DS-ST
Ngày 15 - 01 - 2026.
“ V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Tưởng Thị Thu;

2. Bà Triệu Thị Yên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bàn Thị Bích Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Đàm Như Hiển - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 71/2025/TLST- DS ngày 24 tháng 10 năm 2025, về việc "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 10/2025/QĐXXST- DS ngày 12 tháng 12 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Ma Thị L, sinh năm 1969. Địa chỉ: Thôn Phố C, xã Kim B, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Đặng Thế H, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn An N, xã Kim B, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện,bản tự khai nguyên đơn bà Ma Thị L trình bày: Bà có quen anh Đặng Thế H, bà có thuê anh H làm sửa chữa một số công trình của gia đình, quá trình làm thuê cho gia đình bà, bà có cho anh H nợ lại số tiền là 80.000.000 đồng. Sau đó anh H có vay thêm bà số tiền là 50.000.000 đồng để giải quyết cho công nhân nên ngày 14/7/2024, anh H có viết giấy vay tiền của bà, tổng số tiền vay là 130.000.000 đồng, thời gian hẹn trả là ngày 14/8/2024. Tuy nhiên, đến nay bà đã yêu cầu anh H trả tiền nhiều lần nhưng anh H không thanh toán trả tiền cho bà, bà yêu cầu anh H trả số tiền nợ gốc và lãi là 153.400.000đ (Một trăm năm mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng), trong đó: Nợ gốc là 130.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 14/8/2024 đến 10/10/2025, tính tròn là 12 tháng là 130.000.000 đồng x 1.5%/tháng x 12 tháng = 23.400.000 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

- Tại bản tự khai bị đơn anh Đặng Thế H trình bày: Anh xác định ngày 14/7/2024 anh có viết giấy vay tiền của bà Ma Thị L số tiền là 130.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 14/8/2024 sẽ thanh toán trả cho bà L. Số tiền vay là anh làm sân đền cho bà L và có vay thêm tiền của bà L nhiều lần và cả lãi thành số tiền 130.000.000 đồng. Đối với nội dung giấy vay tiền gốc ngày 14/7/2024 do Tòa án cho anh xem, anh xác định nội dung giấy vay tiền là do anh viết, phần người vay là chữ ký chữ viết của anh. Bà L yêu cầu anh trả số tiền này, anh nhất trí trả tiền gốc và lãi cho bà L là 153.400.000 đồng, trong đó nợ gốc là 130.000.000 đồng. Nay do điều kiện kinh tế khó khăn, chưa có đủ khả năng để trả số tiền trên cho bà L, anh mong muốn trả cho bà L số tiền gốc xuống còn 50.000.000 đồng, anh sẽ trả dần cho bà L.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn bà Ma Thị L vắng mặt, tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà L yêu cầu Tòa án buộc anh Đặng Thế H phải trả cho bà số tiền nợ gốc là 130.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất là 0,83%/tháng, tính từ ngày 15/8/2024 đến ngày xét xử 15/01/2026, tính tròn là 17 tháng, cụ thể: 130.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 17 tháng = 18.343.000 đồng, tổng cả gốc và lãi bà L yêu cầu anh H phải trả 148.343.000 đồng.

Bị đơn anh Đặng Thế H vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 275, 278, 280, 351, 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ma Thị L, buộc anh Đặng Thế H có nghĩa vụ trả cho bà Ma Thị L tổng số tiền là 148.343.000 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 130.000.000 đồng, tiền lãi là 18.343.000 đồng. Về án phí, anh Đặng Thế H phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định; bà Ma Thị L không phải chịu án phí, trả lại cho bà Ma Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Về quyền kháng cáo, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Ma Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc anh Đặng Thế H, cư trú tại thôn An Ninh, xã Kim Bình, tỉnh Tuyên Quang trả tổng số tiền vay cả gốc và lãi là 148.343.000 đồng. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Căn cứ theo khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Tuyên Quang.

Tại phiên toà nguyên đơn bà Ma Thị L vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Đặng Thế H vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, căn cứ các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Căn cứ vào giấy vay tiền, ý kiến trình bày của các đương sự, có đủ căn cứ xác định ngày 14/7/2024, anh Đặng Thế H có vay của bà Ma Thị L số tiền gốc là 130.000.000 đồng, hạn trả tiền là ngày 14/8/2024, không thoả thuận lãi suất, anh H xác định là người trực tiếp viết, ký giấy vay tiền. Đến hạn trả tiền anh H không trả tiền cho bà L. Sau đó bà L đã đòi tiền nhiều lần, nhưng đến nay anh H vẫn chưa trả cho bà L được số tiền nào. Bà L khởi kiện yêu cầu anh H trả số tiền gốc là 130.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày tiếp theo của ngày hạn trả tiền, từ ngày 15/8/2024 đến ngày xét xử 15/01/2026, tính tròn là 17 tháng, cụ thể: 130.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 17 tháng = 18.343.000 đồng, tổng cả gốc và lãi bà L yêu cầu anh H phải trả 148.343.000 đồng. Anh H nhất trí trả tiền gốc và lãi cho bà L, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn, anh mong muốn trả cho bà L số tiền gốc xuống còn 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử thầy rằng, bà L yêu cầu anh H trả nợ gốc, lãi là có căn cứ để chấp nhận theo quy định tại Điều 466, Điều 470 của Bộ luật dân sự. Về tiền lãi, bà L yêu cầu tính lãi từ ngày tiếp theo của ngày hạn trả tiền, từ ngày 15/8/2024 đến ngày xét xử 15/01/2026 x với lãi suất 0,83%/tháng, Hội đồng xét xử thấy rằng, mức lãi suất 0,83%/tháng bà L yêu cầu là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự nên cần chấp nhận.

Từ những nhận định trên, đủ căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ma Thị L. Buộc anh Đặng Thế H có nghĩa vụ trả cho bà Ma Thị L tổng số tiền là 148.343.000 đồng, trong đó số tiền gốc là 130.000.000 đồng, số tiền lãi là 18.343.000 đồng.

Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ: Trường hợp anh Đặng Thế H chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, thì phải chịu lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Anh Đặng Thế H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 7.417.150 đồng. Bà Ma Thị L không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 275, 278, 280, 351, 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

- Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Ma Thị L. Buộc anh Đặng Thế H có nghĩa vụ trả cho bà Ma Thị L tổng số tiền là 148.343.000đ (Một trăm bốn mươi tám triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng), trong đó số tiền gốc là 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng), số tiền lãi là 18.343.000đ (Mười tám triệu ba trăm bốn mươi ba nghìn đồng).

Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí: Anh Đặng Thế H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 7.417.150đ (Bảy triệu bốn trăm mười bảy nghìn một trăm năm mươi đồng).

Bà Ma Thị L không phải nộp án phí. Hoàn trả lại cho bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.835.000đ (Ba triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001007 ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ