vanban.org

Bản án 03/2026/DS-PT — Tranh chấp đất đai

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 09/02/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/02/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa anh Phi và ông Mộc"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật tr…; Điều 149 Bộ luật Dân sự; Điều 184 Bộ luật T tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n n s : 03/2026/DS-PT
Ng y: 9
6
V/v Tranh chấp yêu cầu công nhận
giao dịch chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, đòi quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành ph n H i đ ng t phúc th g có:

+ Th m phán – Chủ t a phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Trường

+ Các Th m phán: Ông Đinh Trường Sơn, b Ho ng Ngọc Liễu

- Th ký phiên t a: Đỗ Thị Nhung – Thư ký TAND tỉnh Phú Thọ

- Đ i di n Vi n ki sát nh n d n t nh Phú Thọ: Bà Khà Thị Li n- Ki m s t vi n tham gia phi n to

Ng y 9 th ng năm 6 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ (cơ sở C) xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý s : 139/2025/TLPT – DS ng y 6 th ng năm

5 về việc “Tranh chấp yêu cầu công nhận giao dịch chuy n nhượng quyền sử dụng đất, đòi quyền sử dụng đất”

Do B n án dân sự sơ thẩm s 12/2025/DS-ST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s : 73 5 QĐ-PT ngày 5 th ng năm 5 giữa c c đương sự:

- Nguy n đơn: Anh ùi Văn P, sinh năm 99 Nơi cư trú: xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ (Trước đây l xóm K, xã V, huyện L, tỉnh Hòa ình) Có mặt

- ị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm 954 Nơi cư trú: xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ (Trước đây l xóm K, xã V, huyện L, tỉnh Hòa ình Có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan:

+ UBND xã T, tỉnh Phú Thọ Đại diện l : Ông Nguyễn Qu c T – Chức vụ: Phó chủ tịch Vắng mặt v có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

+ Ngân hàng N2 Chi nhánh L2 Đại diện l : Ông Bùi Quang T1 – Chức vụ: Gi m đ c Vắng mặt v có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

+ Bà Trần Thị T , sinh năm 953 Địa chỉ: xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ (Trước đây là xóm K, xã V, huyện L, tỉnh Hòa ình) Có mặt

+ Bà ùi Thị H, sinh năm 96 Nơi cư trú: xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ (Trước đây l xóm K, xã V, huyện L, tỉnh Hòa ình).

+ Bà ùi Thị P , sinh năm 987 Nơi cư trú: xóm L, xã T, tỉnh Phú Thọ (Trước đây l xóm L, xã V, huyện L, tỉnh Hòa ình).

Bà H, chị P1 vắng mặt v ủy quyền cho anh Anh ùi Văn P.

- Người l m chứng: Ông ùi Văn K, sinh năm 963 Trú tại: Xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ Vắng mặt

* Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Văn M. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ th m và t i phiên tòa phúc th m n i dung vụ án th hi n nh sau:

Nguyên đơn anh Bùi Văn P trình bày:

đẻ anh P là ùi Văn L nhận chuy n nhượng đất trồng rừng tại đồi T, xóm K, xã V, huyện L, tỉnh Hòa ình (Nay l : xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ) của ông Phạm Văn M và bà Trần Thị T theo c c giao dịch: “Giấy bán chuy n nhượng đất ng y 9 9 7”; “Giấy chuy n nhượng đất ng y 3 4 9’; “Giấy chuy n nhượng đất đồi ng y 6

3” Năm

7 gia đình anh P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s I 46346 với diện tích l 5 m2, phần đất còn lại chưa l m thủ tục sang t n Diện tích đất qua c c lần chuy n nhượng tr n được x c định l to n bộ thửa đất thuộc GCNQSD đất có thông tin: Thửa đất s 49, tờ b n đồ s 9 diện tích 13.000m2 (Diện tích thực tế l 5637, m ), địa chỉ: xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s L 833430 do UBND huyện L cấp ngày 20/08/1998 mang tên ông Phạm Văn M. Những lần mua b n tr n ông L và ông M đều đã thanh to n đầy đủ bằng tiền mặt

Gia đình anh P đã nhận đất v sử dụng ổn định không có tranh chấp từ thời đi m nhận chuy n nhượng đến nay Ông M còn giao cho gia đình anh P qu n lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s L 83343 nhưng ngày 07/4/2006, ông Mộc M lại đ vay Ngân h ng đến nay chưa tr lại Th ng

3, khi gia đình anh P khai th c keo v tiến h nh trồng keo mới thì gia đình nh ông M đã nhổ đi đ trồng keo, sắn của nh ông M.

Gia đình anh P có l m đơn đề nghị UBND xã V (cũ) gi i quyết tranh chấp, U ND xã đã tiến h nh l m việc, y u cầu gia đình ông M tr lại đất cho gia đình anh P nhưng gia đình ông M không nhất trí Nay ông ùi Văn L đã chết n n anh P đại diện gia đình đề nghị To n y u công nhận c c giao dịch: “Giấy bán chuy n nhượng đất ng y 9 9 7”; “Giấy chuy n nhượng đất ng y 3 4 9’; “Giấy chuy n nhượng đất đồi ng y 6

3” v y u cầu gia đình nh ông M tr lại đất đã chuy n nhượng cho gia đình anh P. Ngo i ra nguy n đơn không có y u cầu gì thêm.

Bị đơn ông Phạm Văn M trình bày:

Trước đây, do nh ông M nghèo đói n n có vay của ông ùi Văn L 04 tạ lúa đ ăn, nhưng đến mùa không có lúa đ tr n n gia đình ông M có giao cho ông L m nh đất đ canh tác trừ nợ trong vòng năm tính từ năm 5 Lúc đó có nói rõ là khi nào trừ hết nợ thì tr lại đất cho gia đình ông M Năm

3, gia đình ông M yêu cầu gia đình ông L tr lại đất nhưng anh P- là con trai ông L c tình tiếp tục trồng cây keo n n gia đình ông M đã nhổ đi đ trồng keo của gia đình ông M từ tháng 2/2023. Ông M khẳng định, gia đình ông chỉ vay thóc 01 lần và không ký bất kỳ giấy tờ chuy n nhượng đất n o cũng như không giao sổ đỏ cho gia đình ông L, không hề có trưởng xóm ký làm chứng như chứng cứ anh P đưa ra Ông M yêu cầu gi m định c c văn b n chuy n nhượng v không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh P.

Quan điểm của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị H, Bùi Thị P1, Bùi Thị N: Th ng nhất theo ý kiến của anh P.

Quan điểm của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị T2: th ng nhất theo ý kiến của ông M.

Quan điểm Ngân hàng N2 Chi nhánh L2: Đ tạo điều kiện cho gia đình ông Phạm Văn M ph t tri n kinh tế gia đình, ổn định cuộc s ng, Ngân hàng N2 Chi nhánh L2 cho ông M vay s tiền

đ Tính đến ng y 8 8 5, ông M còn nợ Ngân h ng s tiền:

55 89 đồng, trong đó: dư nợ g c: đồng, dư nợ lãi: 55 89 đồng T i s n nộp về Ngân h ng cầm giữ gồm có: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s I 4 9 89 v Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s L 83343 đứng t n Phạm Văn M Đ đ m b o thu hồi v n cho nh nước, đề nghị Tò n nhân dân khu vực 5- Phú Thọ y u cầu ông Phạm Văn M ph i tr nợ đầy đủ c g c v lãi cho Ngân hàng N2 Chi nhánh L2.

Quan điểm của UBND xã T: Nội dung tranh chấp giữa anh ùi Văn P và ông Phạm Văn M đã được UBND xã V (cũ) tiến hành hòa gi i nhưng không thành nên các bên tiếp tục khởi kiện tranh chấp tại TAND huyện Lạc Sơn (nay là TAND khu vực 15- Phú Thọ) Tính đến thời đi m hiện tại, UBND xã T không tiếp nhận tranh chấp n o kh c có li n quan đến thửa đất. Do vậy, UBND xã T đề nghị TAND khu vực A- Phú Thọ căn cứ vào nguồn g c đất; hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; kết qu gi m định; quá trình sử dụng đất cũng như c c giao dịch phát sinh trực tiếp đ i với thửa đất đ xem xét gi i quyết theo đúng quy định pháp luật.

Lời khai của ông Bùi Văn K- nguyên trưởng xóm: Thừa nhận có ký xác nhận v o “Giấy bán chuy n nhượng đất ng y 9 9 7” v “Giấy chuy n nhượng đất đồi ng y 6

3” giữa ông L và ông M và xác nhận với Tòa án việc chuy n nhượng đất giữa hai bên là có thật.

Tại Kết luận giám định số: 264/KL-KTHS ngày 18/08/2025 của V2 Bộ C1 x c định: “Giấy bán chuy n nhượng đất ngày 19/9/2007”; “Giấy chuy n nhượng đất ng y 3 4 9’; “Giấy chuy n nhượng đất đồi ng y 6

3” đều do ông M ký và ghi rõ họ tên.

Theo kết quả xem xét th m định tại chỗ ngày 21/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Th ) và bản trích đo địa chính ngày 18/8/2025 của Chi nhánh văn phòng Đ: Toàn bộ phần diện tích đất hiện đang tranh chấp có diện tích thực tế là 5637, m (Đã trừ đi phần khu mộ của các hộ dân tr n đỉnh đồi tiếp giáp với thửa đất tranh chấp).

Tại Bản án dân sự sơ thẩm: S 12/2025/DS-ST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ xét xử Quyết định:

Căn cứ: Điều 26; Điều 35; Điều 39; khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 135; 152 Luật đất đai năm 2024; Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015; Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn P về việc “Yêu cầu công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đòi quyền sử dụng đất”:

Tuyên bố “Giấy bán chuyển nhượng đất ngày 19/9/2007”; “Giấy chuyển nhượng đất ngày 03/4/2009”; “Giấy chuyển nhượng đất đồi ngày 06/2/2013” giữa ông Bùi Văn L và ông Phạm Văn M đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 49, tờ bản đồ số 9 diện tích 13.000m2 (Diện tích thực tế là 5637,1m2), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L 833430 do chủ tịch UBND huyện L cấp ngày 20/08/1998 mang tên ông Phạm Văn M, địa chỉ: đồi T, xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm K, xã T, tỉnh Phú Th ) có hiệu lực pháp luật.

Buộc ông Phạm Văn M và bà Trần Thị T2 có trách nhiệm thu hoạch cây cối hoa màu trên đất để trả lại đất cho gia đình anh P trong thời hạn từ ngày xét xử đến tháng 02/2026- Ngày cây keo đủ 03 năm tuổi.

Chấp nhận sự thỏa thuận tự nguyện của các bên đương sự xác định 02 cây keo trồng năm 2016 trong đó: 01 cây có đường kính khoảng 90cm và 01 cây có đường kính 60cm thuộc quyền sở hữu của gia đình anh P.

2. Kiến nghị UBND xã T, tỉnh Phú Th thu hồi theo kết quả giải quyết tại bản án đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thông tin như sau: GCNQSD đất số L 833430, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00214 QSDĐ/UB, thửa đất số 49, tờ bản đồ số 9, mục đích sử dụng: Trồng rừng, thời hạn sử dụng: từ 20/08/1998 đến 20/08/2048, diện tích 13.000m2 tại: xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình do chủ tịch UBND huyện L cấp ngày 20/08/1998 mang tên ông Phạm Văn M.

Ông Phạm Văn M và bà Trần Thị T2 có trách nhiệm giao nộp GCNQSD đất số L 833430 cho cơ quan nhà nước có th m theo đúng quyết định của bản án.

Gia đình anh Bùi Văn P có quyền, nghĩa vụ đến Cơ quan có th m quyền để làm các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai khi bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của Ngân hàng N3 chi nhánh L2 với ông Phạm Văn M và bà Trần Thị T2: ông M, bà T2 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N3 chi nhánh L2 số tiền: 12.055.890 đồng. Trong đó: dư nợ gốc: 12.000.000 đồng, dư nợ lãi: 55.890 đồng.

Ngoài ra b n án còn quyết định về chi phí xem xét thẩm định, chi phí giám định, án phí và quyền kháng cáo.

Ng y 8 5 bị đơn l ông Phạm Văn M kh ng c o b n n sơ thẩm s 12/2025/DS–ST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15-Phú Thọ do ông M không đồng ý tr đất cho anh ùi Văn P.

Tại cấp phúc thẩm:

Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/11/2025 anh Bùi Văn P trình bày bổ sung: Nội dung giấy chuy n nhượng đất ngày 19/9/2007: Ông Phạm Văn M chuy n nhượng cho ông ùi Văn L một lô đất sau nhà, diện tích kho ng 3.000m², sử dụng vĩnh viễn, gi 3

đồng; ông M đã nhận đủ tiền và bàn giao đất Địa giới: chân đồi dưới từ g c muồng giáp ông N1 thẳng lên cây C trên m thẳng ra m bà X, gi p vườn ông D, giáp rào nhà ông M. Giấy có chữ ký ông M và ông K l trưởng thôn ký làm chứng.

Nội dung giấy chuy n nhượng đất ngày 03/4/2009: Ông Phạm Văn M và bà Trần Thị T2 bán cho ông Lục P2 lô đất

m , gi p đất ông M2, phía nam gi p đất ông Thắng H1, gi 4

đồng, ông M đã nhận đủ tiền v giao đất sử dụng vĩnh viễn kèm theo sổ đỏ, ông M ký t n người chuy n nhượng.

Nội dung giấy chuy n nhượng đất đồi ngày 06/02/2013: Ông Phạm Văn M có lô đất đồi diện tích 3.000m2, giáp m nhà V, gi đất ông Long D, gi p đất ông V1, ông T3 cùng thôn, chuy n nhượng cho ông L cùng thôn sử dụng vĩnh viễn, ông M đã nhận đủ tiền v b n giao đất, ông M ký tên và có ông ùi Văn K1 đại diện thôn T ký làm chứng.

Ba thửa đất theo các giấy chuy n nhượng đất trên liền kề nhau và nằm trên cùng một thửa đất nhà ông M. Sau mỗi lần chuy n nhượng b anh đều nhận đất từ ông M và sử dụng ổn định đến khi có tranh chấp. Diện tích đất ghi trong các giấy chuy n nhượng là diện tích thực tế các bên mua bán với nhau, khi nhận chuy n nhượng ông M b n giao đất trên thực tế cho b anh và có chứng kiến của trưởng thôn là ông ùi Văn K, gia đình không đo lại đất mà sử dụng luôn theo ranh giới thực tế và ghi trong giấy chuy n nhượng.

Diện tích nhận chuy n nhượng theo các giấy năm

7,

9 đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/9/2011cho ông ùi Văn L, diện tích 5.102 m², thửa s 1708, tờ b n đồ s 1, giáp hộ ông V1, ông Q, giáp bờ rào hiện tại nhà ông M đang ở. Diện tích còn lại theo giấy chuy n nhượng năm 2013 giáp nhà ông H2, ông V1, phần còn lại gi p đất nhà ông M, đến nay chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ngày 25/11/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Th ban hành Quyết định ủy thác thu thập chứng cứ số 1063/2025/QĐ-PT: Ủy thác cho Tòa án nhân dân khu vực 15-Phú Thọ tiến hành biện pháp thu thập chứng cứ tại Chi nhánh văn phòng Đ, UBND xã T, Ngân hàng N4 chi nhánh L2 và các hộ liền kề.

Theo Biên bản xác minh ngày 08/12/2025, Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Th cung cấp:

Về nguồn g c diện tích đất tranh chấp tại đồi T, xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ: Có nguồn g c do Nh nước cấp theo Nghị định s 02-CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ về việc giao đất lâm nghiệp Trước đây gia đình ông M được nhà nước giao thửa đất trên với mục đích trồng rừng là thửa đất s 49, tờ b n đồ s 9, diện tích 3

m², địa chỉ: xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s L 833430 do UBND huyện L cấp ngày 20/8/1998 mang tên ông Phạm Văn M. Từ năm

7 gia đình anh P sử dụng ổn định liên tục v đã được cấp giấy chứng nhận đ i với một phần diện tích đất (5.102m2) cho ông ùi Văn L là b đẻ anh P do ông ùi Văn L mua lại đất của ông Phạm Văn M (ông ùi Văn L hiện đã chết).

Đến năm

3 thì ph t sinh tranh chấp với gia đình ông M. Vụ tranh chấp đã được hòa gi i tại UBND xã V cũ, qu trình hòa gi i gia đình anh P cung cấp: giấy chuy n nhượng đất c c năm

7,

9,

3 Diện tích đất qua các lần chuy n nhượng tr n được x c định là toàn bộ thửa đất s 49 nêu trên.

Về hình thức cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Năm 998, ông Phạm Văn M được Nh nước giao đất tại Đồi T đ trồng rừng theo Nghị định s 02-CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ v được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s L 83343 ng y 8 998, đ i với thửa đất s 49, tờ b n đồ s 9, diện tích 13.000 m² (diện tích đo đạc thực tế 5 637, m²), địa chỉ xóm T, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Ông ùi Văn L mua lại đất của ông Phạm Văn M nhưng chưa lập hợp đồng chuy n nhượng Đến năm

, Nh nước thực hiện Dự án 672 (Dự án đo đạc, lập bản đồ địa chính đất lâm nghiệp để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân tại các địa phương, đặc biệt là các xã vùng cao, vùng khó khăn, triển khai từ những năm 2007–2008). Theo đó, UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/9/2011 cho ông ùi Văn L đ i với thửa đất s 1708, tờ b n đồ s 1, diện tích 5.102 m². Hai thửa đất n u tr n đều có vị trí tại Đồi T, xóm C, xã V, tỉnh Hòa Bình. Về diện tích chênh lệch là do sai s trong qu trình đo đạc.

Về việc chuy n nhượng đất: UBND xã xác nhận có biết việc chuy n nhượng đất giữa ông M và ông L, tuy nhiên việc chuy n nhượng chỉ bằng giấy viết tay, không qua chứng thực tại U ND xã, n n U ND xã không lưu giữ hồ sơ, t i liệu liên quan.

Về hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Đ i với ông Phạm Văn M, các tài liệu liên quan đến việc giao đất và cấp Giấy chứng nhận năm 1998 hiện UBND xã T không còn lưu giữ; đ i với ông ùi Văn L, UBND xã T có lưu giữ b n sao sổ mục k đo đạc năm

7 v b n sao b n đồ địa chính đo đạc năm 7

Tại Biên bản xác minh ngày 08/12/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ cung cấp:

- B n trích đo đ i với đất tranh chấp ông ùi Văn P và ông Phạm Văn M tại đồi T, xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ lập theo yêu cầu của TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (Nay là TAND khu vực A - Phú Thọ).

Thời đi m lập b n trích đo l th ng 8 5 n trích đo được đo đạc, chỉ dẫn theo thực tế của các hộ tranh chấp. Thời đi m biên b n trích đo được đưa vào hồ sơ vụ án là tháng 8/2025 và do anh ùi Văn P l người nhận b n trích đo từ Chi nhánh Văn phòng Đ và nộp cho Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ.

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện L cấp ngày 20/8/1998 cho ông Phạm Văn M được quyền sử dụng 3 m đất, thửa s 49, tờ b n đồ 9 tại xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện L cấp ngày 13/9/2011 cho ông ùi Văn L được quyền sử dụng 5 m đất, thửa s 1708, tờ b n đồ 1, tại Đồi T, xóm C, xã V, tỉnh Hòa Bình đều được cấp hợp pháp.

- GCNQSD đất cấp ngày 20/8/1998 cho ông Phạm Văn M đ i với thửa s 49, tờ b n đồ 9, diện tích 13.00 m đất, mục đích sử dụng: trồng rừng; địa chỉ tại xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tr n thì gia đình ông M không được cấp thêm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trồng rừng nào khác tại xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Theo Báo cáo của Ngân hàng N2 – Chi nhánh L2, tỉnh Hòa Bình:

Về dư nợ vay của hộ ông Phạm Văn M: Tính đến ngày 10/12/2025, tổng dư nợ còn lại l 8 9 7 6 đồng, gồm 8

đồng nợ g c v 9 7 6 đồng nợ lãi. Tài s n được nộp về Ngân hàng cầm giữ là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s I 409189 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s L 83343 , đều đứng tên ông Phạm Văn M. Ngân hàng yêu cầu ông M ph i tr nợ đầy đủ c g c và lãi cho Ngân hàng.

Theo Kết quả xác minh ngày 12/12/2025 của TAND khu vực 15 - Phú Th :

Đại diện các hộ gia đình đang qu n lý, sử dụng các thửa đất liền kề với diện tích đất đang tranh chấp gồm bà Bùi Thị B (vợ ông ùi Văn T3 đã chết), ông ùi Văn T4, bà Bùi Thị K2 (vợ ông ùi Văn D đã chết), ông ùi Văn Q, bà Bùi Thị T5 (vợ ông Cao Viết V1) xác nhận: Đã chứng kiến việc phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất giữa hộ ông M và hộ ông P từ năm

3, có tham gia buổi xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án, trực tiếp dẫn đo v không có tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất đ i với hộ ông M và ông L, ranh giới giữa gia đình mình với gia đình ông M, ông P đúng như thực tế sử dụng đất hiện tại.

Ông ùi Văn Q và bà Bùi Thị T5 còn xác nhận: Ông bà có chứng kiến m nh đất đang tranh chấp trước đây ông M sử dụng, kho ng từ năm 6 thì gia đình ông ùi Văn L (b đẻ của anh P) sử dụng, đến năm

3 thì ông M tranh chấp với anh P (vì ông ùi Văn L hiện đã chết)

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguy n đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên kháng cáo về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn, c c nội dung khác bị đơn không kh ng c o

C c đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc gi i quyết vụ án.

Đại diện Viện ki m sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát bi u ý kiến tại phiên tòa phúc thẩm:

Về t tụng: Việc tuân theo pháp luật t tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phi n tòa và của những người tham gia t tụng trong quá trình gi i quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật t tụng dân sự.

Về nội dung kh ng c o: Căn cứ vào các giấy chuy n nhượng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc gia đình ông Phạm Văn M tr lại diện tích đất đã chuy n nhượng cho ông L l có căn cứ. Bị đơn ông Phạm Văn M kh ng c o nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho kháng cáo của mình. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ kho n Điều 308 Bộ luật T tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn M, giữ nguyên b n án dân sự sơ thẩm s 12/2025/DS-ST ngày 21/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n đã được xem xét tại phiên tòa, kết qu tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền gi i quyết: Đây l vụ án tranh chấp yêu cầu công nhận giao dịch chuy n nhượng quyền sử dụng đất, đòi quyền sử dụng đất đ i với diện tích đất tại đồi T, xóm K, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ). Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ) thụ lý, gi i quyết vụ n l đúng quy định tại Điều 6, Điều 35, Điều 39 Bộ luật T tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn l y u cầu công nhận giao dịch chuy n nhượng quyền sử dụng đất, đòi quyền sử dụng đất. Quá trình gi i quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, c c b n đương sự đều không có yêu cầu áp dụng thời hiệu Căn cứ kho n Điều 149 Bộ luật Dân sự, kho n Điều 184 Bộ luật T tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng quy định về thời hiệu đ gi i quyết vụ n l có căn cứ.

Về sự tham gia t tụng của c c đương sự, những người tham gia t tụng có mặt, vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm đã được triệu tập hợp lệ; việc xét xử vắng mặt đ i với những người vắng mặt l đúng quy định pháp luật, không nh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của c c đương sự.

Đơn kh ng c o của bị đơn ông Phạm Văn M được nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ theo quy định tại c c Điều 271, 272 và 273 Bộ luật T tụng dân sự n n được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn M đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Bùi Văn P, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

[2.1] Tài li u h sơ th hi n:

Nguy n đơn anh ùi Văn P khởi kiện cho rằng b đẻ anh là ông ùi Văn L đã nhận chuy n nhượng đất trồng rừng tại Đồi T, xóm K, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ) của ông Phạm Văn M, bà Phạm Thị T6 theo các giao dịch: “Giấy bán chuyển nhượng đất ngày 19/9/2007; Giấy chuyển nhượng đất ngày 3/4/2009; Giấy chuyển nhượng đất đồi ngày 6/2/2013”. Trong đó diện tích nhận chuy n nhượng theo các giấy năm

7,

9 đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/9/2011 cho ông ùi Văn L, diện tích 5.102 m², thửa s 1708, tờ b n đồ s 1, giáp hộ ông V1, ông Q, giáp bờ rào hiện tại nhà ông M đang ở. Diện tích còn lại theo giấy chuy n nhượng năm 3 gi p nhà ông H2, ông V1, phần còn lại giáp đất nhà ông M, đến nay chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông L đã thanh to n đủ tiền, nhận đất, trồng keo v gia đình sử dụng ổn định, liên tục. Tháng 02/2023 phát sinh tranh chấp, gia đình ông M đã nhổ keo mới trồng của gia đình anh P đi v trồng keo, sắn của nh ông M. Nay nguy n đơn yêu cầu công nhận các giao dịch chuy n nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu gia đình ông M tr lại đất. Ông Phạm Văn M không chấp nhận, cho rằng không có việc chuy n nhượng mà chỉ giao đất canh tác trừ nợ lúa có thời hạn năm tính từ năm 5, không ký giấy chuy n nhượng, đề nghị gi m định c c văn b n chuy n nhượng v không đồng ý với yêu cầu khởi kiện.

[2.2] Về ngu n gốc th a đất đang tranh chấp:

Nguy n đơn, ị đơn, Người có quyền lợi v nghĩa vụ li n quan, người làm chứng và các hộ liền kề đều xác nhận: Thửa đất đang tranh chấp tại Đồi T, xóm K, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ), có nguồn g c do Nh nước giao cho hộ ông Phạm Văn M đ trồng rừng theo chính sách giao đất lâm nghiệp. Ông M được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s L 83343 ng y 8 998 đ i với thửa đất s 49, tờ b n đồ s 9, diện tích 13.000m2 tại khu Đ.

[2.3] Về quá trình quản lý, s dụng đất tranh chấp:

Tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của c c đương sự th hiện diện tích đất tranh chấp do gia đình ông Phạm Văn M giao cho gia đình anh ùi Văn P trực tiếp qu n lý, sử dụng và trồng keo trong thời gian dài, ổn định, liên tục từ năm

6 cho đến tháng 02/2023 thì phát sinh tranh chấp.

[2.4] Về hi u lực của các giao dịch liên quan đến quyền s dụng đất:

Nguy n đơn anh ùi Văn P xuất trình các giấy chuy n nhượng quyền sử dụng đất: Giấy chuy n nhượng đất ngày 19/9/2007; Giấy chuy n nhượng đất ngày 03/4/2009 và Giấy chuy n nhượng đất đồi ngày 06/02/2013. Xét các giấy tờ giao dịch về quyền sử dụng đất do nguy n đơn xuất trình, Hội đồng xét xử thấy rằng các giấy tờ n y đều được lập bằng văn b n, th hiện rõ vị trí, ranh giới, diện tích đất giao dịch, có chữ ký, chữ viết mang tên ông Phạm Văn M l người đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thời đi m lập giấy. Theo xác nhận của Chi nhánh văn phòng Đ, ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Phạm Văn M đ i với diện tích n u tr n, gia đình ông M không được cấp thêm giấy chứng nhận nào khác tại xóm T, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm K, xã T, tỉnh Phú Thọ). Mặt khác, trên thực tế, gia đình anh P đã được gia đình ông M giao thửa đất tr n đ sử dụng từ năm 6 đến khi phát sinh tranh chấp năm

3 Do đó, có cơ sở x c định diện tích đất th hiện trong giấy các giấy tờ giao dịch do nguy n đơn xuất trình chính là diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Văn M.

Mặc dù bị đơn ông Phạm Văn M không thừa nhận các hợp đồng chuy n nhượng quyền sử dụng đất trên mà cho rằng chỉ là việc giao đất tạm thời đ trừ nợ, không có việc ông chuy n nhượng quyền sử dụng đất và ký bất kỳ giấy tờ chuy n nhượng đất nào cho ông L. Tuy nhiên, tại kết luận gi m định s 264/KL-KTHS ngày 18/8/2025 của V2 – Bộ C1 đã x c định: “Giấy bán chuyển nhượng đất ngày 19/9/2007; Giấy chuyển nhượng đất ngày 3/4/2009; Giấy chuyển nhượng đất đồi ngày 6/2/2013 đều do ông M ký và ghi rõ h tên”. Ngoài ra, lời khai của ông ùi Văn K, nguy n Trưởng xóm thừa nhận có ký xác nhận vào “Giấy bán chuyển nhượng đất ngày 19/9/2007” và “Giấy chuyển nhượng đất đồi ngày 6/2/2013” giữa ông L và ông M và xác nhận với Tòa án việc chuy n nhượng đất giữa hai bên là có thật. Bên cạnh đó, theo bi n b n xác minh ngày 08/12/2025, Ủy ban nhân dân xã T xác nhận gia đình anh P đang sử dụng diện tích đất do ông ùi Văn L mua lại đất của ông Phạm Văn M Do đó có đủ cơ sở x c định việc chuy n nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn M và ông ùi Văn L là có thật.

Quá trình gi i quyết vụ n cũng cho thấy, sau khi các giấy tờ n u tr n được lập, hộ ông ùi Văn L v sau đó l anh ùi Văn P đã trực tiếp qu n lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp liên tục, công khai, ổn định trong thời gian dài, tiến hành trồng keo, không bị bị đơn ngăn c n hay khiếu nại cho đến khi phát sinh tranh chấp v o th ng

3 v cũng không bị cơ quan nh nước có thẩm quyền xử lý vi phạm h nh chính trong lĩnh vực đất đai C c hộ liền kề (gồm hộ bà Bùi Thị B (vợ ông Bùi Văn T3 đã chết), hộ ông Bùi Văn T4, hộ bà Bùi Thị K2 (vợ ông Bùi Văn D1 đã chết), hộ ông Bùi Văn Q, hộ bà Bùi Thị T5 (vợ ông Cao Viết V1)) đều xác nhận đã tham gia buổi xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án, trực tiếp chỉ dẫn m c giới, không có tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất đ i với hộ ông M và ông L, ranh giới giữa các hộ liền kề với gia đình ông M, anh P đúng như thực tế sử dụng đất hiện nay. Ủy ban nhân dân xã T cũng x c nhận ranh giới sử dụng đất giữa các bên phù hợp với hiện trạng sử dụng đất thực tế hiện nay.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, các giao dịch chuy n nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn M và ông ùi Văn L được xác lập bằng giấy viết tay sau ng y 5

993, tuy không được công chứng, chứng thực theo quy định tại kho n Điều 4, Điều 689 Bộ luật dân sự năm 5 v Điều 127 Luật đất đai năm

3 tại thời đi m xác lập, nhưng c c b n đã tự nguyện thực hiện xong giao dịch, bên chuy n nhượng đã nhận đủ tiền, bên nhận chuy n nhượng đã nhận đất, qu n lý, sử dụng ổn định trong thời gian dài, không bị bị đơn ngăn c n hay khiếu nại cho đến khi phát sinh tranh chấp v cũng không bị cơ quan nh nước có thẩm quyền xử lý vi phạm h nh chính trong lĩnh vực đất đai Trường hợp này phù hợp với quy định tại đi m b.3 ti u mục 2.3 mục 2 Nghị quyết s 02/2004/NQ-HĐTP ng y

8 4 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, do đó có đủ căn cứ x c định các giao dịch chuy n nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn M và ông ùi Văn L là có hiệu lực pháp luật.

Về ý kiến của bị đơn cho rằng giữa ông M và ông L chỉ là quan hệ “vay lúa, trừ nợ lúa, cho mượn đất có thời hạn”, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có việc vay mượn lúa v cho mượn đất có thời hạn Trong khi đó, nguy n đơn xuất trình được các giấy chuy n nhượng quyền sử dụng đất lập th nh văn b n, th hiện rõ ý chí chuy n giao quyền sử dụng đất. Quá trình sử dụng đất kéo dài nhiều năm, ổn định, phù hợp với thực tế qu n lý sử dụng đất và kết qu xác minh của chính quyền địa phương Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của bị đơn

Đ i với bà Trần Thị T2, là vợ của ông Phạm Văn M, mặc dù bà T2 không trực tiếp ký vào các giấy tờ giao dịch n u tr n, nhưng trong su t quá trình từ khi giao đất cho ông ùi Văn L đến khi phát sinh tranh chấp, bà T2 không có ý kiến ph n đ i, không khiếu nại, không có h nh vi ngăn c n việc sử dụng đất, đồng thời cùng ông M đ cho hộ ông L và anh P qu n lý, sử dụng đất ổn định trong thời gian d i Do đó, có cơ sở x c định bà T2 biết và mặc nhi n đồng ý với việc giao đất, không làm nh hưởng đến hiệu lực của các giao dịch đã được xác lập và thực hiện trên thực tế.

Đ i với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp do UBND huyện L cho ông ùi Văn L ngày 13/9/2011, diện tích 5102m2, thửa s 1708, tờ b n đồ s 1, địa chỉ Đồi T, xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình: Theo biên b n xác minh do UBND xã T, tài liệu của Chi nhánh văn phòng Đ cung cấp và lời khai của nguy n đơn anh P thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông L được thực hiện tr n cơ sở đo đạc theo dự án, kê khai 672. Thời đi m đó gia đình ông L đang l người trực tiếp qu n lý, sử dụng thửa đất trên, có tên trong sổ mục kê và b n đồ địa chính năm 7 của xã.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Bùi Văn P về việc yêu cầu công nhận các giao dịch chuy n nhượng quyền sử dụng đất giữa ông ùi Văn L và ông Phạm Văn M, yêu cầu gia đình ông Phạm Văn M tr lại diện tích đất đã chuy n nhượng l có căn cứ.

Tuy nhiên, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa s 49 cấp cho ông Phạm Văn M có diện tích 13.000 m², tổng diện tích ghi trong các giấy chuy n nhượng là kho ng 8.000 m², trong khi kết qu xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/11/2024 và b n trích đo hiện trạng thửa đất tranh chấp do Chi nh nh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L lập ngày 18/8/2025 thì toàn bộ diện tích đất đang tranh chấp theo hiện trạng sử dụng thực tế l 5 637, m² (đã trừ phần diện tích khu mộ của các hộ dân tr n đỉnh đồi tiếp giáp với thửa đất tranh chấp).

Qua kết qu xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy k từ thời đi m ông Phạm Văn M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay, ranh giới thửa đất không thay đổi so với ranh giới tại thời đi m cấp giấy chứng nhận, sau khi nhận chuy n nhượng ông ùi Văn L đã trực tiếp qu n lý, sử dụng đất ổn định, liên tục trong thời gian dài, không có tranh chấp về ranh giới với các hộ liền kề, các hộ sử dụng đất liền kề đều xác nhận m c giới ổn định, không có tranh chấp, chính quyền địa phương cũng x c nhận thửa đất không phát sinh tranh chấp ranh giới.

Như vậy, có đủ căn cứ x c định nguyên nhân diện tích đất thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các giấy chuy n nhượng là do sai s kỹ thuật đo đạc qua các thời kỳ v đặc thù đất đồi núi.

Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định đúng về nguyên nhân chênh lệch diện tích đất là do sai s đo đạc. Tuy nhiên trong phần quyết định, Tòa án cấp sơ thẩm chưa tuy n rõ việc buộc ông Phạm Văn L và bà Trần Thị T2 giao tr toàn bộ diện tích đất tranh chấp theo ranh giới sử dụng thực tế với diện tích cụ th là 5.637,1m2, dẫn đến chưa b o đ m đầy đủ, rõ ràng và kh thi trong thi hành án. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm cần tuy n đ l m rõ nghĩa vụ giao tr đất của ông Phạm Văn L và bà Trần Thị T2 theo hiện trạng sử dụng thực tế.

[2.5] Về vi c áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ th m

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, các giao dịch chuy n nhượng quyền sử dụng đất được xác lập vào các ngày 19/9/2007, 03/4/2009, 06/02/2013, là thời đi m Luật Đất đai năm 3 đang có hiệu lực v trước ngày Bộ luật Dân sự năm

5 có hiệu lực thi hành. Sau khi giao kết, các giao dịch đã được các bên thực hiện xong, chỉ phát sinh tranh chấp sau đó

Căn cứ đi m c kho n Điều 688 Bộ luật Dân sự năm

5, đ i với giao dịch dân sự được thực hiện xong trước ngày Bộ luật này có hiệu lực mà có tranh chấp thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự năm

5 v c c văn b n quy phạm pháp luật quy định chi tiết Bộ luật Dân sự năm 5 đ gi i quyết Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Bộ luật Dân sự năm 5 v Luật Đất đai năm

4 đ xem xét hiệu lực các giao dịch l chưa phù hợp với quy định về điều kho n chuy n tiếp Do đó cần sửa một phần b n n sơ thẩm về việc áp dụng pháp luật.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn về nội dung vụ n, nhưng cần sửa một phần b n n sơ thẩm về việc áp dụng pháp luật và cách tuyên trong phần quyết định đ b o đ m đúng quy định pháp luật và tính kh thi trong thi hành án.

Việc sửa b n n sơ thẩm theo hướng nêu trên không l m thay đổi b n chất vụ n, không l m thay đổi nội dung quyết định của b n n sơ thẩm.

. Những phần quyết định của b n n sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 282 Bộ luật T tụng dân sự.

. Về án phí dân sự phúc thẩm: B n n sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm bị sửa một phần n n người kháng cáo không ph i chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUY T ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn M.

2. Sửa một phần B n án dân sự sơ thẩm s 12/2025/DS-ST ngày 21 tháng 8 năm

5 của Tòa án nhân dân khu vực 15 Phú Thọ, về việc áp dụng pháp luật và cách tuyên trong phần quyết định. Cụ th :

Căn cứ đi m c kho n Điều 688 ộ luật Dân sự năm 5;

Căn cứ Điều , Điều 4, Điều 7 , Điều 34, Điều 4 , Điều 689, Điều 697 Bộ luật Dân sự năm 5;

Căn cứ Điều 5 , Điều 5, Điều 6, Điều 127 Luật đất đai năm 3;

Căn cứ đi m b.3 ti u mục 2.3 mục 2 Nghị quyết s 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân t i cao.

2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguy n đơn anh ùi Văn P về việc “Yêu cầu công nhận giao dịch chuy n nhượng quyền sử dụng đất, đòi quyền sử dụng đất”:

- Tuyên b “Giấy bán chuy n nhượng đất ng y 9 9 7”; “Giấy chuy n nhượng đất ng y 3 4 9”; “Giấy chuy n nhượng đất đồi ng y 6

3” giữa ông ùi Văn L và ông Phạm Văn M có hiệu lực pháp luật.

- Buộc ông Phạm Văn M và bà Trần Thị T2 có trách nhiệm thu hoạch toàn bộ cây c i, hoa màu trên diện tích đất tranh chấp 5 637, m (đã trừ phần diện tích khu mộ của các hộ dân tr n đỉnh đồi tiếp giáp với thửa đất tranh chấp) và giao tr toàn bộ diện tích đất này cho anh ùi Văn P theo ranh giới đất đang được sử dụng thực tế, theo B n trích đo hiện trạng thửa đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ lập ngày 18/8/2025.

B n trích đo hiện trạng thửa đất tranh chấp do Chi nhánh Văn phòng Đ lập ng y 8 8 5 được kèm theo b n án và là một bộ phận không tách rời của b n án.

2.2. Kiến nghị UBND xã T, tỉnh Phú Thọ thu hồi 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thông tin như sau: GCNQSD đất s L 833430, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s :

4 QSDĐ U , thửa đất s 49, tờ b n đồ s 9, mục đích sử dụng: Trồng rừng, thời hạn sử dụng: từ 20/08/1998 đến 20/08/2048, diện tích 13.000m2 tại: xóm C, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình do Chủ tịch UBND huyện L cấp ngày 20/08/1998 mang tên ông Phạm Văn M.

Gia đình anh ùi Văn P có quyền, nghĩa vụ đến Cơ quan có thẩm quyền đ làm các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

3. Các quyết định khác của b n n sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo ông Phạm Văn M không ph i chịu án phí dân sự phúc thẩm.

5. B n án phúc thẩm có hiệu lực ph p luật k từ ng y tuy n n 9

6

Cỡ chữ