- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NĐ: Công ty T2; BĐ: Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 (Việt Nam) đối với anh Nguyễn Văn H2.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 39/2014/NĐ-CP Về hoạt động của công ty tài chín…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2026/DS-ST Ngày: 09/01/2026 V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Xuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phát Triển;
2. Ông Nguyễn Chí Công.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09/01/2026, tại Phòng xử án Toà án nhân dân Khu vực 7 - Đồng Tháp xét xử công khai vụ án sơ thẩm thụ lý số: 285/2025/TLST-DS ngày 29/10/2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2025/QĐXXST-DS ngày10/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 435/2025/QSĐST-DS ngày 25/12/2025, giữa:
1. Nguyên đơn: Công ty T2 (Việt Nam).
Địa chỉ: Số I P, phường S, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền ký tài liệu: Ông Trần La Ngọc H1 – Chức vụ: Trưởng phòng Tố tụng.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lee Yun H: Công ty L; Đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Tất T – Chức vụ Giám đốc. (Theo Giấy ủy quyền số 22/2025/GUQ-MAFC, ngày 17/4/2025).
Người được ủy quyền lại: Chị Nguyễn Thị Lan A, sinh năm 2000.
Địa chỉ liên hệ: Phòng 401, tầng D, Tòa nhà số G, T, phường T, thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền ngày 01/8/2025).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số E, ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
Có đơn xin vắng mặt: Chị Nguyễn Thị Lan A.
Vắng mặt không lý do: Anh Nguyễn Văn H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có người đại diện theo ủy quyền là chị Nguyễn Thị Lan A trình bày:
Ngày 06/10/2023 Công ty T2 (viết tắt Công ty T2) ký Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4964931 (viết tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho anh Nguyễn Văn H2 với khoản vay trị giá 20.463.000 đồng (giải ngân ngày 06/10/2023), mức lãi suất: 39%/năm. Sau khi ký kết, Công ty T2 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho anh Nguyễn Văn H2.
Theo Hợp đồng tín dụng, anh H2 có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền 1.587.053 đồng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 05/11/2023 đến ngày 05/10/2026. Tuy nhiên sau khi được giải ngân, anh H2 chỉ thanh toán được 13 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 9.470.309 đồng. Từ kỳ thành thứ nhất đến kỳ 19 không trả tiền gốc, chỉ trả tiền lãi. Kể từ 06/11/2024 anh H2 đã không thanh toán theo nghĩa vụ theo hợp đồng.
Công ty T2 đã tiến hành liên hệ qua điện thoại để thông báo trực tiếp cho anh H2 thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, anh H2 vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T2.
Tính đến ngày 04/09/2025 tổng số tiền anh H2 phải tất toán (bao gồm dư nợ gốc, lãi) là: 26.860.612 đồng, gồm: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán 20.463.000 đồng; Số tiền lãi trong hạn chưa thanh toán: 5.877.958 đồng; Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán 273.192 đồng; Số tiền lãi chậm trả chưa thanh toán 246.462 đồng.
Do đó, Công ty T2 đề nghị Tòa án buộc anh H2 thanh toán toàn bộ khoản vay cho Công ty T2 với tổng số tiền (bao gồm dư nợ gốc còn lại của khoản vay, lãi), tạm tính đến ngày 04/09/2025 là 26.860.612 đồng. Đồng thời thanh toán lãi phát sinh từ ngày 05/09/2025 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay nói trên.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn H2: Vắng mặt tại các phiên làm việc, hòa giải và không có văn bản ý kiến.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Thị Lan A là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Anh Nguyễn Văn H2 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7- Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Từ khi thụ lý đơn yêu khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án dân sự cũng như tại phiên tòa Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã chấp hành pháp luật đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn anh H2 vắng mặt không lý do đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 317, 319, 323 Bộ luật dân sự, Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận yêu cầu của Công ty T2, buộc Nguyễn Văn H2 có nghĩa vụ trả cho Công ty T2 số tiền vay gốc và lãi tạm tính đến ngày 04/9/2025 là 26.860.612 đồng. Đồng thời thanh toán lãi phát sinh từ ngày 05/9/2025 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán khoản, án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Công ty T2 khởi kiện yêu cầu anh H2 có nghĩa vụ thanh toán khoản vay theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4964931 ngày 05/10/2023, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (viết tắt là Bộ luật TTDS) xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và quan hệ pháp luật là: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
Về thẩm quyền: Bị đơn anh Nguyễn Văn H2 cư trú tại: Số E, ấp H, xã T, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đồng Tháp theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Sự vắng mặt của đương sự: Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng chị Nguyễn Thị Lan A là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và anh H2 vắng mặt không lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H2 đã ký nhận trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án. Như vậy, anh H2 đã biết được vụ kiện dân sự này nhưng không đến Tòa theo giấy triệu tập. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 228, 238 BLTTDS.
Nội dung vụ án:
Nghĩa vụ chứng minh:
Công ty T2 khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn H2 có nghĩa vụ thanh toán số tiền vay tín dụng còn nợ, có nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh và tham gia làm việc tại Tòa án để bảo vệ các yêu cầu của Công ty T2.
Đối với anh H2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên làm việc, hòa giải, được thông báo kết quả phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ biết được toàn bộ nội dung vụ án nhưng không tham gia tố tụng và không có văn bản ý kiến là xem như từ bỏ quyền chứng minh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 2 Điều 91 BLTTDS.
Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét giải quyết vụ án theo quy định.
Xác lập Hợp đồng tín dụng:
Theo Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4964931 ngày 05/10/2023 (viết tắt là hợp đồng tín dụng) là hợp đồng điện tử ký theo phương thức chữ ký số. Công ty T2 có cung cấp hồ sơ chữ ký số, gồm: Hợp đồng đối tác cung cấp và sử dụng dịch vụ chữ ký số công cộng FPT-CA số 2020.123/HĐKT/BK6, kèm theo phụ lục 01, 03, 05 (bút lục 50 – 69), phụ lục 06 (bút lục 93 – 95) và Giấy chứng nhận sử dụng chứng thư số FPT – CA tên thuê bao Nguyễn Văn H2 (bút lục 38). Như vậy, Công ty T2 đã cung cấp đầy đủ tài liệu chứng minh việc xác lập hợp đồng vay điện tử theo quy định của Luật giao dịch điện tử năm 2005. Về phía anh H2 không có ý kiến phản đối.
Việc xác lập giao dịch dân sự giữa Công ty T2 và anh Nguyễn Văn H2 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định pháp luật về hình thức hợp đồng điện tử và nội dung, thỏa mãn điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng theo quy định tại mục 4 Bộ luật dân sự 2015 (viết tắt BLDS), Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (viết tắt Luật CTCTD), Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/5/2014 của Chỉnh phủ quy định về hoạt động của Công ty T2 và công ty C thuê tài chính (viết tắt Nghị định số 39). Nên được thừa nhận và bảo vệ, là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, do đó có giá trị ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia.
[2.3.] Thực hiện Hợp đồng:
Theo hợp đồng tín dụng, Công ty T2 cho anh H2 vay tiền theo hình thức thanh toán hàng tháng, số tiền vay là 20.463.000 đồng, lãi suất: 39%/năm, thời hạn vay 36 tháng. Ngày 06/10/2023, Công ty T2 đã giải ngân khoản vay vào tài khoản của anh H2: Số tài khoản 1030158967 tại Ngân hàng TMCP N, theo Phiếu báo nợ (bút lục số 42) đúng với tài khoản thanh toán của bên vay tại Điều 3, Điều 8 Phần A hợp đồng tín dụng. Như vậy, Công ty T2 đã thực hiện xong nghĩa vụ của bên cho vay.
Đối với nghĩa vụ của anh H2: Theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng: Anh H2 có trách nhiệm thanh toán bao gồm gốc, lãi và phí trong vòng 36 tháng, mỗi tháng anh H2 phải thanh toán cho Công ty T2 số tiền là 1.587.053 đồng. Sau khi ký Hợp đồng tín dụng, anh H2 chỉ thanh toán được 13 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 9.470.309 đồng theo giải trình thanh toán hợp đồng tín dụng. Kể từ 06/11/2024 anh H2 đã không thanh toán theo nghĩa vụ theo hợp đồng. Anh H2 cũng không có không có ý kiến phản đối. Như vậy, anh H2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là vi phạm Điều 3, Điều 8 Phần B hợp đồng tín dụng nên Công ty Asset dụng chấm dứt hợp đồng vay trước hạn và thu hồi nợ theo Điều 11 Bản điều khoản và điều kiện cho vay và đúng theo quy định tại Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010.
[2.4.] Hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng vay trước thời hạn:
Theo đó, mục 8.2 Điều 8 Phần B Hợp đồng tín dụng quy định về trả nợ trễ hạn và Điều 11 Bản điều khoản và điều kiện cho vay thì ngoài nợ gốc, anh H2 còn phải chịu tiền lãi trong hạn, lãi suất quá hạn trên nợ gốc với mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn và tiền lãi chậm trả là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010. Theo lịch thanh toán được thỏa thuận khi ký hợp đồng thì từ kỳ thành thứ 01 đến kỳ 19 không trả tiền gốc, chỉ trả tiền lãi. Do đó, Công ty T2 khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Văn H2 có nghĩa vụ thanh toán số tiền vay còn nợ và tiền lãi, tạm tính đến ngày 04/9/2025 là 26.860.612 đồng, gồm: Nợ gốc 20.463.000 đồng; Lãi trong hạn 5.877.958 đồng; Lãi quá hạn 273.192 đồng; Lãi chậm trả 246.462 đồng (kèm theo Báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng ngày 04/9/2025) là có căn cứ nên chấp nhận.
Công ty T2 yêu cầu buộc anh H2 thanh toán cho Công ty T2 tiền lãi chậm trả phát sinh từ ngày 05/9/2025 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, với mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng là đúng với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQHĐTP ngày 11/01/2019 nên chấp nhận yêu cầu này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Đồng Tháp đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí:
Công ty T2 không phải chịu tiền án phí sơ thẩm, được nhận lại 672.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006260 ngày 28/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Anh Nguyễn Văn H2 phải chịu 1.343.030 đồng, làm tròn là 1.343.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm (là 5% x 26.860.612 đồng phải thanh toán cho Công ty T2) theo quy định tại ăn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Căn cứ các Điều 463 Bộ luật dân sự 2015
Căn cứ Điều 91, 95 và Điều 108 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010
Căn cứ Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/5/2014 của Chỉnh phủ quy định về hoạt động của Công ty T2 và công ty cho thuê tài chính.
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQHĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm Tòa án nhân dân Tối cao.
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 (Việt Nam) đối với anh Nguyễn Văn H2.
1.1. Buộc anh Nguyễn Văn H2 thanh toán Công ty T2 (Việt Nam) số tiền vay gốc và lãi tạm tính đến ngày 04/9/2025 là 26.860.612 đồng, gồm: Nợ gốc 20.463.000 đồng; T1 lãi trong hạn 5.877.958 đồng; T1 lãi quá hạn 273.192 đồng; Tiền lãi chậm trả 246.462 đồng.
1.2. Buộc anh Nguyễn Văn H2 tiếp tục thanh toán cho Công ty T2 (Việt Nam) tiền lãi chậm trả phát sinh từ ngày 05/9/2025 đến khi thanh toán xong nghĩa vụ với mức lãi suất thỏa thuận trong Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số 4964931 ngày 05/10/2023.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Công ty T2 (Việt Nam) không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại 672.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006260 ngày 28/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
2.2. Anh Nguyễn Văn H2 phải chịu 1.343.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Công ty T2 (Việt Nam), anh Nguyễn Văn H2 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.
4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND Khu vực 7- Đồng Tháp; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; - Phòng THADS KV7 – Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VT (kx). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Kim Xuyến |