vanban.org

Bản án 03/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 17/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Tiến Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phùng Tiến Đ 12 ( Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 17/01/2025). Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đ phạm tội 260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Tiến Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LINH
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:03 /2025/HS-ST
Ngày: 17/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Chung

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Viết Hải

2. Bà Lê Thị Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Cúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS, ngày 30 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phùng Tiến Đ ( tên gọi khác: Không) , sinh 27/11/2006, tại V; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Thế Đ1, sinh năm 1981 và bà Phan Thị Mỹ L, sinh năm 1985 ; Vợ, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cứ trú” Có mặt.

- Bị hại:Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1952, T tại: Khu phố A, thị trấn C, V, tỉnh Quảng Trị. Vắng

- Người bào chữa cho bị cáo Phùng Tiến Đ: Bà Lê Thị Diệu H - Trợ giúp

viên pháp lý. Công tác tại: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Q. Có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:Ông Phùng Thế B, sinh năm 1947 Trú tại: Khu phố A, thị trấn C, huyện V, Quảng Trị. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 ngày 18/6/2024, Phùng Tiến Đ (sinh ngày 27/11/2006) tự ý lấy xe môtô biển kiểm soát 74F1-0844 của ông nội Đ là ông Phùng Thế B (sinh năm 1947, trú tại khu phố A, thị trấn C) đang để ở sân của gia đình Đ (chìa khóa xe để sẳn ở ổ khóa điện) và điều khiển đến quán cà phê "KT café" ở thị trấn C uống nước với Hoàng Công T1 (sinh năm 2007, trú tại thôn H, xã T, huyện G). Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô trên chở T1 đi đánh bida. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Đ tiếp tục chở T1 đến sân bóng Cửa T2, khi đi đến đoạn km 6 + 582m đường ĐT574 thuộc địa phận thôn T, xã V, là đường hai chiều rộng 8m, mỗi chiều rộng 4m, một chiều hướng Quốc lộ A đi thị trấn C, một chiều hướng thị trấn C đi Quốc lộ A, được phân chia với nhau bằng vạch sơn vàng kẻ rời. Lúc này Đ điều khiển xe ở làn đường bên phải theo chiều đi của mình thì phát hiện phía trước khoảng 4m đến 5m có ông Phạm Văn L1 (sinh năm 1952, trú tại khu phố A, thị trấn C) đang điều khiển xe đạp ở phía trước cùng chiều nên Đ đánh lái sang phải để tránh. Do khoảng cách quá gần nên Đ không tránh được, dẫn đến phần bên trái xe mô tô biển kiểm soát 74F1-0844 tại các vị trí: cánh mang; lốp trước va chạm với phần bên phải xe đạp tại các vị trí: gác để chân giá đèo hàng; vành kim loại bảo vệ dĩa xích khiến xe mô tô và xe đạp ngã ra đường. Ông Phạm Văn L1 bị thương nặng được mọi người đưa đi sơ cứu tại Bệnh viện Đ3 và phục hồi chức năng C, sau đó được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Q để cấp cứu và điều trị; Phùng Tiến Đ và Hoàng Công T1 bị xây xát nhẹ; xe mô tô và xe đạp bị hư hỏng.

Ông L1 điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Q với các chẩn đoán: Tụ máu dưới màng cứng bán cầu não phải. Đụng dập xuất huyết thùy trán trái. Chấn thương hàm mặt. Ngày 09/7/2024, ông L1 tạm thời xuất viện để điều trị ngoại trú. Đến ngày 10/9/2024, ông L1 nhập viện Bệnh viện đa khoa tỉnh Q để phẩu thuật vá khuyết sọ sau chấn thương sọ não.

+ Kết luận giám định số 853/KL-KTHS ngày 24/7/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q, kết luận:

Không tìm thấy dấu vết va chạm giữa người ngồi trên xe mô tô BKS 74F 1-0844 với xe đạp và người ngồi trên xe đạp; giữa xe mô tô BKS 74F1-0844 với người ngồi trên xe đạp.

Vị trí va chạm giữa xe mô tô BKS 74F1-0844 và xe đạp là: Phân bên trái xe mô tô BKS 74F 1-0844 tại các vị trí: cánh mang, lốp trước va chạm với phần bên phải xe đạp tại các vị trí: gác để chân giá đèo hàng; vành kim loại bảo vệ đĩa xích.

Xe mô tô BKS 74F 1-0844 tác động vào xe đạp theo hướng từ sau tới trước trong trạng thái xe mô tô BKS 74F1-0844 đang có hướng di chuyển từ Quốc lộ A đi thị trấn C, xe đạp đang ở phía trước xe mô tô BKS 74F1-0844.

Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS 74F1-0844 với xe đạp trên hiện trường là khu vực phía trước điểm đầu dấu vết số 2 (được ghi nhận và mô tả trong hồ sơ khám nghiệm hiện trường), trên phần đường có hướng đi từ Quốc lộ A đến thị trấn C.

Không xác định được tốc độ của xe mô tô BKS 74F1 -0844 và xe đạp tại thời điểm xảy ra va chạm.

+ Kết luận giám định số 810/KL-KTHS ngày 11/7/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q, kết luận:

Tập tin video gửi đến giám định có tên "5552405928655.mp4", dung lượng 18 MB, thời lượng 01 phút 42 giây.

Không phát hiện dâu hiệu cắt ghép chỉnh sửa.

+ Kết luận giám định số 200/KLTTCT-TTPY ngày 27/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q, căn cứ các kết quả điều trị tại 02 bản án số vào viện 024445/24 ngày 18/6/2024 và 037585/24 ngày 10/9/2024 kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định:

Vùng đỉnh - thái dương phải có vết thương hình vòng cung kích thước trung bình.

Diện khuyết xương sọ vùng đỉnh - trán - thái dương phải đã phẫu thuật vá khuyết sọ, đường kính #8 cm, đáy chắc.

Cung lông mày trái có vết sẹo kích thước nhỏ.

- Kết quả cận lâm sàng:

Phiếu kết quả chụp CLVT sọ não ngày 12/9/2024: Mở nắp sọ trán - thái dương - đỉnh phải. Gãy cũ trần hốc mắt trái, thành trước thành sau xoang hàm trái, cánh lớn xương bướm và cung tiếp gò má trái. Tụ máu lẫn khí dưới màng cứng bán cầu não phải. Di chứng tổn thương não cũ trán trái.

Điện não đồ ngày 20/9/2024: Điện não đồ tạm thời điểm hiện tại chưa ghi nhận sóng bệnh lý.

2. Kết luận:

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn L1 tại thời điểm giám định là 66% (Sáu mươi sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Trong đó:

Vùng đỉnh - thái dương phải có vết thương hình vòng cung kích thước trung bình. Áp dụng tại chương 8, mục I, khoản 2 xếp tỉ lệ = 02%.

Diện khuyết xương sọ, vùng đỉnh- trán- thái dương phải đã phẩu thuật vá khuyết sọ, đường kính #08cm, đáy chắc. Áp dụng tại chương 1, mục I, khoản 5.2 xếp tỷ lệ = 28%

Cung lông mày trái có vết sẹo kích thước nhỏ. Áp dụng tại chương 8, mục I, khoản 1, nguyên tắc 2 xếp tỷ lệ = 03%

Gãy trần hốc mắt trái. Áp dụng tại chương 10, mục XIII, khoản 1 xếp tỷ lệ = 05%

Gãy thành trước thành sau xoang hàm trái. Áp dụng tại chương 12, mục II, khoản 4.1 xếp tỷ lệ = 07%

Gãy cánh lớn xương bướm. Áp dụng tại chương 1, mục I, khoản 2.1 xếp tỷ lệ = 08%

Gãy cung tiếp gò má trái. Áp dụng tại chương 11, mục I, khoản 2 xếp tỷ lệ = 08%

Tụ máu lẫn khí dưới màng cứng bán cầu não phải. Áp dụng tại chương 1, mục III, khoản 7 xếp tỷ lệ = 16%

Di chứng tổn thương não cũ trán trái. Áp dụng tại chương 1, mục III, khoản 1 xếp tỷ lệ = 21%

Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư bằng 66,03% lấy tròn số bằng 66% (Sáu mươi sáu phần trăm).

+ Kết luận định giá tài sản số 555/KL-HĐĐGTS và số 556/KL-HĐĐGTS số ngày 22/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, kết luận:

Giá trị xe đạp bị thiệt hại tại thời điểm ngày 18/6/2024 là: 40.000 đồng (Bốn mươi ngàn đồng chẵn).

Giá trị xe mô tô biển kiểm soát 74F1-0844 bị thiệt hại tại thời điểm ngày 18/6/2024 là : 45.000 đồng (Bốn mươi lăm ngàn đồng chẵn).

Kết quả kiểm tra nồng đọ cồn đối với Phùng Tiến Đ 10 giờ 45 phút ngày 19/6/2024 có nồng độ cồn 0.000 miligam/1 lít thở và biên bản kiểm tra ma túy vào 10 giờ 30 phút ngày 19/6/2024 cho kết quả âm tính với ma túy.

* Vật chứng và tài sản khác đã thu giữ:

- 01 (Một) xe mô tô nhản hiệu: DREAM; Loại xe: Nữ; Màu sơn: Nâu; Mang biển số 74F1-0844; Số máy: C100ME-8145277; Số K: C100m- 8145277; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số: A 0019456, biển số ghi trên giấy 74F1-0844; Tên chủ xe: Phùng Thế B; Nơi thường trú: Đ, V, Vĩnh L2 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 25/11/1999 đã được trả lại cho chủ sở hữu là ông Phùng Thế B.

- 01 (Một) xe đạp; Loại xe: Nữ, đã được trả lại cho chủ sở hữu là ông Phạm Văn L1.

- 01 đĩa DVD chứa nội dung là một video do camera an ninh lắp đặt tại nhà của anh Nguyễn Văn Đ2 về diễn biến vụ tai nạn, được lưu theo hồ sơ vụ án.

+ Về dân sự:

Bị cáo Phùng Tiến Đ cùng với bố mẹ của là anh Phùng Thế Đ1, chị Phan Thị Mỹ L đã thỏa thuận và bồi thường đủ số tiền 55.000.000 đồng cho bị hại Phạm Văn L1.

Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 27/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Phùng Tiến Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phùng Tiến Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị HĐXX:

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,2,3 Điều 65, khoản 1 Điều 54, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Tiến Đ từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Phùng Tiến Đ cùng gia đình đã bồi thường đủ số tiền 55.000.000 cho phía bị hại.

Về vật chứng: Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện V đã trả lại cho: Ông Phùng Thế B: 01 (Một) xe mô tô nhản hiệu: DREAM; Loại xe: Nữ; Màu sơn: Nâu; Mang biển số 74F1-0844; Số máy: C100ME-8145277; Số K: C100m-8145277; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số: A 0019456, biển số ghi trên giấy 74F1-0844; Tên chủ xe: Phùng Thế B; Nơi thường trú: Đ, V, Vĩnh L2 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 25/11/1999 và ông Phạm Văn L1 01 (Một) xe đạp; Loại xe: Nữ,

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luậtCáo trạng truy tố bị cáo về hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý, là người chưa thành niên và có nhân thân tốt: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ông nội bị cáo được Nhà nước huy chương kháng chiến hạng ba, Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 09 tháng cải tạo không giam giữ. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị HĐXX ghi nhận phía bị cáo và phía bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong toàn bộ thiệt hại.

Bị cáo Phùng Tiến Đ không tranh luận gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo Phùng Tiến Đ phù hợp với lời khai của của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghiệm hiện trường và biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định, cùng những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do không tuân thủ đúng quy tắc giao thông đường bộ, bị cáo Phùng Tiến Đ là người chưa thành niên có độ tuổi 17 năm 08 tháng 11 ngày đã điều khiển xe môtô biển số 74F1-0844 không có giấy phép lái xe và thiếu quan sát nên để xe đụng vào xe đạp do ông Phạm Văn L1 điều khiển gây tai nạn, làm ông L1 bị chấn thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 66% ; vụ việc xảy ra vào khoảng 19 giờ ngày 18/6/2024 trên đoạn km 6 + 582m đường ĐT574 thuộc địa phận thôn T, xã V, là đường hai chiều rộng 8m, mỗi chiều rộng 4m, một chiều hướng Quốc lộ A đi thị trấn C, một chiều hướng thị trấn C đi Quốc lộ A, được phân chia với nhau bằng vạch sơn vàng kẻ rời. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh đã truy tố bị cáo Phùng Tiến Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung là “Không có giấy phép lái xe theo quy định” khi tham gia giao thông quy định tại điểm a khoản 2 (thuộc trường hợp điểm a khoản 1) Điều 260 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ của bị cáo dẫn đến tai nạngiao thông là gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại trực tiếp đến an toàn, sự hoạtđộng bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ và xâm phạm đến tínhmạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi, bị cáo là ngườicó lý trí bình thường, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Tuy bị cáo thực hiệnhành vi với lỗi vô ý, nhưng thiệt hại do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng do đã làmbị thương một người. Việc làm của bị cáo không những là vi phạm pháp luật mà còn gây ra sự đau đớn về thể xác và giảm sức khoẻ của người bị hại, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhândân, làm cho họ không an tâm khi tham gia giao thông đường bộ. Do vậy, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất và mức độ của hành vi do bị cáo gây ra. HĐXX xét thấy cần xử lý bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời cũng răn đe,giáo dục và phòng ngừa những trường hợp tương tự có thể xảy ra.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:Sau tai nạn, phía bị cáo cùng gia đình đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hạicho phía bị hại; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khaibáo, tỏ ra ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đượcquy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, phía bị hạicũng có một phần lỗi và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo sinh ra và lớn lên trong gia đình có ông nội có công với cách mạng được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng ba nên HĐXXxem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tạikhoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.Đồng thời, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo sẽđược áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy địnhtại Điều 91 Bộ luật Hình sự. HĐXX sẽ xem xét áp dụng các tình tiết nêu trên đối với bị cáo khi lượng hình để xử bị cáo dưới mức khung hình phạt để giáo dục chung và phòng nừa chung. [7] Xét thấy bị cáo khi phạm tôi là người chưa thành niên, có nhân thân tốt, tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên HĐXX xét thấy cho bị cáo được hưởng ántreo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo về cho địa phương phối hợp cùnggia đình giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và phía gia đình bị hại đã thỏa thuận bồithường xong toàn bộ thiệt hại cho phía gia đình bị hại và phía gia đình bị hại khôngyêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phùng Thế B cũng không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền 55.000.000 đồng đã bỏ ra để bồithường cho gia đình bị hại thay cho bị cáo. Đối với chi phí sửa chữa xe sau tai nạncác bên cũng đã tự thỏa thuận xong, phía gia đình bị hại và người có quyền lợi nghĩavụ liên quan không ai yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên và phù hợp với quy định của pháp luật nên được HĐXX ghi nhận.

Quan điểm của Kiểm sát viên cho bị cáo phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện V đã trả lại cho: Ông Phùng Thế B: 01 (Một) xe mô tô nhản hiệu: DREAM; Loại xe: Nữ; Màu sơn: Nâu; Mang biển số 74F1-0844; Số máy: C100ME-8145277; Số K: C100m- 8145277; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số: A 0019456, biển số ghi trên giấy 74F1-0844; Tên chủ xe: Phùng Thế B; Nơi thường trú: Đ, V, Vĩnh L2 do Phòng CSGT Công an tỉnh Q cấp ngày 25/11/1999 và ông Phạm Văn L1 01 (Một) xe đạp; Loại xe: Nữ, các bên không ai có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Ông Phạm Văn L1 điều khiển xe đạp đi ban đêm không có báo hiệu bằng đèn hoặc vật phản quang, đã vi phạm quy định tại quy định tại điểm i, khoản 1, Điều 8 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ: “Điều khiển xe thô sơ đi ban đêm không có báo hiệu bằng đèn hoặc vật phản quang”. Như vậy, ông L1 cũng có một phần lỗi dẫn đến tai nạn. Cơ quan CSĐT Công an huyện V chuyển hồ sơ đến đội sát giao thông Công an huyện V để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Tại Giấy kết quả xét nghiệm hoá sinh ngày 18/6/2024 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q đối với bệnh nhân Phạm Văn L1 có kết quả: Định lượng Ethanol (cồn) trong máu là 0.6 mmol/l (Giá trị bình thường là 0-10.9 mmol/l). Quá trình làm việc, ông L1 và những người thân trong gia đình xác định trước khi xảy ra tai nạn ông L1 không sử dụng rượu, bia hoặc các chất có cồn khác. Vì vậy không có căn cứ xác định ông L1 sử dụng rượu, bia khi xảy ra tai nạn để xử phạt vi phạm hành chính đối với ông L1 về hành vi điều khiển xe đạp tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn.

Ông Phùng Thế B là chủ sở hữu xe mô tô biển số 74F1-0844, không biết việc Đ tự ý lấy xe mô tô 74F1-0844 và điều khiển xe tham gia giao thông dẩn đến tai nạn nên không xem xét xử lý trách nhiệm đối với ông Phùng Thế B.

Hoàng Công T1 là người ngồi sau xe mô tô do bị can Đ điều khiển gây tai nạn nhưng T1 không bị thương và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 3 Điều 65; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

1.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Tiến Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phùng Tiến Đ 12 ( Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 17/01/2025).

Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phùng Tiến Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị để yêu cầu xét xử phúcthẩm.

Cỡ chữ