- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn Tuấn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK NÔNG Bản án số: 03/2025/HSST Ngày 15 - 01 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Bào.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hồng và bà Lê Thị Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thể - Thư ký TAND huyện Cư Jút.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hữu Ái – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST- HS, ngày 12 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn T, sinh năm 1985; tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn Tân Sơn, xã E, huyện C, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn M (đã chết) và bà Hà Thị N, sinh năm 1958; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cư Jút - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 17/10/2024, Vi Văn T đi bộ từ thôn Tân Sơn, xã Ea Pô, huyện Cư Jut, tỉnh Đắk Nông đến khu vực chợ xã Ea Pô thuộc thôn Thanh Tâm, xã Ea Pô, huyện Cư Jút để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đến nơi, T gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) và hỏi “có đồ để bán không” tức là có ma túy bán không thì người này nói “có”. T đưa cho người này số tiền 200.000 đồng thì người đàn ông chỉ T đi đến trụ điện cách đó khoảng 40 mét có gói ma tuý để trong vỏ bao thuốc lá ngựa nâu (WAR HORSE). T đi đến gốc trụ điện có một vỏ bao thuốc lá ngựa nâu mở ra thì thấy có một gói nhựa trong suốt được hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể trong suốt. Sau đó, T cất vỏ bao thuốc lá có chứa gói nhựa trong suốt bên trong có chất tinh thể trong suốt vào túi áo rồi đi bộ về nhà. Đến 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đi trên đoạn đường thuộc thôn Nam Thanh, xã Ea Pô, huyện Cư Jut thì bị Công an huyện Cư Jut phối hợp với Công an xã Ea Pô kiểm tra, phát hiện 01 gói nhựa trong suốt được hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể trong suốt được để trong vỏ bao thuốc lá ngựa nâu trong túi áo phía trước bên phải mà T đang mặc trên người. Sau đó, Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định.
Tại Bản kết luận giám định số: 485/KL-KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông kết luận: Chất rắn dạng tinh thể trong suốt đựng trong 01 gói nhựa trong suốt hàn kín được niêm phong trong bì thư gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,1244 gam.
Tại bản Cáo trạng số: 03/CTr-VKS, ngày 12/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố bị cáo Vi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vi Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/10/2024.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 0,1062 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá ngựa nâu, đã qua sử dụng.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập trong vụ án. Do đó đủ cơ sở kết luận, vào lúc 12 giờ 15 phút ngày 17/10/2024, tại thôn Nam Thanh, xã Ea Pô, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, Công an huyện Cư Jut bắt quả tang Vi Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,1244 gam ma túy tổng hợp, loại Methamphetamine.
Vì vậy, có đủ căn cứ pháp lý để kết luận, bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã truy tố. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm xử lý của đại diện viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) ….,Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra:
. Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Nhà nước nghiêm cấm việc tàng trữ trái pháp chất ma túy nhưng do ý thức xem thường pháp luật và do lối sống buông thả mua ma túy về để sử dụng nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi tàng trữ trái phep chất ma túy là chất gây nghiện, nguy hại cho sức khoẻ con người, là nguyên nhân gây nên các căn bệnh xã hội; nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm. Vì vậy, đối với bị cáo cần phải xử phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sử; sau khi phạm tội bị cáo đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản nên nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: đối với 0,1062 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá ngựa nâu hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
. Đối với người đàn ông bán ma túy cho Vi Văn T tại khu vực chợ xã Ea Pô thuộc thôn Thanh Tâm, xã Ea Pô, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Vi Văn T 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 17/10/2024).
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,1062 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 vỏ bao thuốc lá ngựa nâu.
(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an huyện Cư Jút và Chi cục Thi hành án huyện Cư Jút)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Vi Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Nông; - Sở tư pháp tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Cư Jút; - Cơ quan CSĐT huyện Cư Jút; - Chi cục THADS huyện Cư Jút; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ( Đã ký) NÔNG VĂN BÀO |