- Tranh chấp gì? án hình sự — "Liêu Minh H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Như P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2025/HS-ST Ngày: 14-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Chiêu Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Láth
Ông Thái Trung Nghĩa.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhi – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên tòa: Bà Phan Hồng Huyên – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Như P, (tên gọi khác: Hai phượng) sinh ngày 27/02/2005; tại thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Nơi thường trú: khóm Đ, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện tại: Hẻm H, đường L, Khóm D, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: không nghề nghiệp; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngyễn Thành C (Nguyễn Thanh T), sinh năm 1974 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (Nguyễn Thị H1), sinh năm 1976 (còn sống); chồng và con không có; Tiền án: không; Tiền sự: không.
Nhân thân: Vào ngày 09/01/2024 bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/9/2024 và chuyển tạm giam cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Minh V, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khóm D, Phường A, thị xã V tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người làm chứng:
+ Ông Trương Phước Đăng K, sinh năm 2005; Địa chỉ: Khóm Đ, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
+ Ông Hứa Hoàng Đ, sinh năm 2005; Địa chỉ: ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo Nguyễn Thị Như P được người bạn tên V1 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) ở thành phố Hồ Chí Minh cho 06 viên ma túy kẹo và 01 bịch ma túy dạng khay, bị cáo P mang số ma túy này về căn nhà mà bị cáo P cùng Trương Phước Đăng K đang thuê của ông Phan Minh V thuộc Khóm D, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng rồi bị cáo P lấy 01 viên ma túy dạng kẹo sử dụng một mình, số ma túy còn lại bị cáo P cất giấu trong túi xách và để tại phòng ngủ của bị cáo P nhằm mục đích sử dụng dần. Khoảng 22 giờ ngày 04/12/2023 Trương Phước Đăng K và Hứa Hoàng Đ đang ở căn nhà nêu trên có người tên S (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) liên lạc với K để đặt mua 4.000.000 đồng ma túy gồm: 05 viên ma túy dạng kẹo và 01 bịch ma túy dạng khay, hẹn địa điểm giao tại đường L thuộc Khóm E, Phường A, thị xã V, nghe vậy K đồng ý và K rủ Hứa Hoàng Đ cùng đi giao ma túy, Đ liền đồng ý. Lúc đó, bị cáo P đang ngủ, K đi vào phòng ngủ của P lấy 05 viên ma túy dạng kẹo và 01 bịch ma túy dạng khay rồi để tất cả số ma túy này trong 01 bịch nylon màu đen rồi K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83LA-0011 của K chở Đ đi giao ma túy cho người đã đặt mua. Khi cả hai đến trước quán K1 tại đường L thuộc Khóm E, Phường A, thị xã V thì bị lực lượng tuần tra của Công an thị xã V dừng phương tiện kiểm tra, qua kiểm tra lực lượng Công an đã phát hiện 05 viên ma túy dạng kẹo và 01 bịch ma túy dạng khay được để trong 01 bịch nylon màu đen mà Đ đang cầm trên tay, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trương Phước Đăng K, Hứa Hoàng Đ và tạm giữ toàn bộ số ma túy nêu trên cùng các đồ vật liên quan. Đồng thời, lực lượng Công an tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương Phước Đăng K qua khám xét lực lượng chức năng thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia (loại bàn phím) màu đen.
Hành vi của Trương Phước Đăng K và Hứa Hoàng Đ đã bị xét xử tại bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Thị Như P đã bỏ trốn, nên cơ quan điều tra đã ban hành quyết định truy nã đối với bị cáo P và tách hành vi của bị cáo phượng để xử lý sau. Đến ngày 20/9/2024 Cơ quan điều tra công an thị xã V đã bắt được bị cáo P.
Tại Bản kết luận giám định số 213/KLMT-KTHS ngày 12/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận:
- Gói 01: Mẫu 05 (năm) viên nén dạng hình bầu dục, màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,8516 gam, loại MDMA.
- Gói 02: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,8197 gam, loại Ketamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Như P đã tự khai nhận: Vào ngày 04/12/2023 tại Khóm D, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo P đã có hành vi cất giấu 05 viên ma túy dạng kẹo qua giám định có tổng khối lượng 1,8516 gam, loại MDMA và 01 bịch ma túy dạng khay qua giám định có tổng khối lượng 1,8197 gam, loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKS-VC ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Như P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Như P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù. Về xử lý vật chứng: Vật chứng đã xử lý xong theo bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Như P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Thống nhất với lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho mình.
Tại phiên tòa người làm chứng Trương Phước Đăng K trình bày: Khoa là bạn với P vào ngày 04/12/2023 do có người đặt mua ma túy nên K có đi vào phòng ngủ của P để lấy ma túy đi bán cùng với Hứa Hoàng Đ thì bị lực lượng Công an dừng xe và kiểm tra phát hiện có ma túy nên bị Công an bắt giữ.
Tại phiên tòa người làm chứng Hứa Hoàng Đ trình bày: Đăng là bạn của K và P, vào ngày 04/12/2023 K có rủ Đ đem ma túy đi bán thì Đ đồng ý, trên đường đi giao ma túy thì bị lực lượng Công an bắt giữ.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Minh V có đơn xin xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của ông V cũng không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt ông V theo quy định của pháp luật.
Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Như P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. MDMA và Ketamine là chất gây nghiện, gây nguy hại cho cơ thể người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau, ảnh hưởng đến kinh tế của cả xã hội. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn trong xã hội.
Xét về nguyên nhân, điều kiện phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên sử dụng ma túy nên được bạn bị cáo cho ma túy về sử dụng để tìm cảm giác kích thích tinh thần, để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, khi sử dụng ma túy xong, số ma túy còn lại cất trong túi xách của bị cáo để tiếp tục sử dụng khi có nhu cầu, sau đó số ma túy còn lại bị Trương Phước Đăng K và Hứa Hoàng Đ lấy đi bán cho người khác, trên đường di chuyển K và Đ bị tổ tuần tra yêu cầu dừng xe để kiểm tra khám xét và bắt người phạm tội quả tang đối với về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trước khi phạm tội, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, nhận thức được việc làm sai trái của mình. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu và lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Đối chiếu hành vi phạm tội của bị cáo P thực hiện vừa nêu trên với các quy định của Bộ luật Hình sự thì bị cáo P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đã xử lý xong theo bản án hình sự sơ thẩm số 48/2024/HS-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Nguyễn Thị Như P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Như P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Như P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 20 tháng 9 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án bị cáo Nguyễn Thị Như P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thị xã Vĩnh Châu; - Cơ quan THAHS CA thị xã Vĩnh Châu; - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu; - CQĐT CA thị xã Vĩnh Châu; - Đội tổng hợp CA thị xã Vĩnh Châu; - Sở TP tỉnh Sóc Trăng; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh ST; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Dương Chiêu Hùng |