- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Q mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 03/2025/HS-ST Ngày: 03/01/2025 |
QUẬN HỒNG BÀNG Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Khương Ông Trần Ngọc Hải. - Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tình – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Đức - Kiểm sát viên. Ngày 03 tháng 01 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 191/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo: Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện AD (nay là phường A, quận AD), thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T và bà Đào Thị Q; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/9/2024 đến ngày 09/9/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; có mặt. - Người chứng kiến: Ông Nguyễn Thế V; vắng mặt. - Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Quang Khiêm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 04/9/2024, Nguyễn Ngọc Q nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0904176803 của một đối tượng tự xưng tên “Hoa” hỏi mua của Q 02 túi ma túy “đá”. Do nghiện ma túy và không có công việc ổn định nên Q nhận lời bán ma túy cho Hoa để kiếm lời. Q báo cho Hoa giá 02 túi ma túy “đá” là 1.600.000 (một triệu sáu trăm nghìn) đồng và hẹn giao dịch tại bờ đê Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Sau đó, Q một mình điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 16N1-7802 đến khu vực bờ đê thôn An Dương, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tìm mua 02 túi ma túy “đá” của một người đàn ông xưng tên là “Thắng” với giá 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng. Thắng đưa cho Q 01 túi nilon bên trong có 02 túi nilon nhỏ đếu chứa ma túy “đá”. Do biết Q ở khu vực An Đồng nên Thắng cho Q nợ tiền trả sau. Sau khi nhận được ma túy, Q cất vào túi quần phía sau bên trái rồi đi giao cho khách. Khi đi đến khu vực trước cửa nhà số 220 đường Bãi Sậy, phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng thì Q bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, thu giữ tại túi quần bên trái phía sau Q đang mặc 01 túi nilon mép dán màu cam, bên trong có 02 túi nilon mép dán màu xanh đều chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy; 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 16N1-7802; 01 điện thoại nhãn hiệu Realme đã quan sử dụng. Tiến hành xét nghiệm nước tiểu đối với Nguyễn Ngọc Q cho kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Tại bản Kết luận giám định số 1046/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Ngọc Q gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,49 gam, loại Methamphetamine. Trưng cầu giám định dữ liệu đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Realme thu giữ của Nguyễn Ngọc Q, kết quả không tìm thấy nội dung gì có liên quan. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Ngọc Q tại thôn An Dương, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan. Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSHB ngày 13/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Ngọc Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: - Tuyên bố Nguyễn Ngọc Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/9/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói của mẫu vật được dán kín niêm phong trong một phong bì thư có dấu niêm phong số 1046MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Realme đã qua sử dụng là công cụ bị cáo sử dụng để liên lạc với khách mua ma túy nên tịch thu, sung quỹ Nhà nước. - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với xã hội, làm lại cuộc đời, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 04/9/2024, Nguyễn Ngọc Q đã mua 1,49 gam ma túy loại Methamphetamine của đối tượng tên “Thắng” với giá 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng để bán lại cho đối tượng tên “Hoa” với giá 1.600.000 (một triệu sáu trăm nghìn) đồng nhằm mục đích kiếm lời, nhưng chưa bán được thì đã bị phát hiện bắt giữ cùng toàn bộ tang vật tại khu vực trước cửa nhà số 220 đường Bãi Sậy, phường Trại Chuối, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Bị cáo là người có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên
hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự. [3] Căn cứ vào khối lượng ma túy bị cáo cất giữ để bán và các tình tiết khác của vụ án, xác định hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm, nhằm mục đích giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. [7] Về nhân thân: Xét nhân thân bị cáo thấy không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét vấn đề này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. [8] Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây nên, căn cứ quy định pháp luật hình sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù thích hợp và cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật. [9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa thể hiện, bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử phạt tiền bị cáo mức thấp nhất là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). [10] Về xử lý vật chứng: Methamphetamine là chất ma túy cấm lưu hành; vì vậy, tịch thu tiêu hủy bì thư niêm phong bên trong có chứa chất Methamphetamine, là phần còn lại sau giám định. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Realme đã qua sử dụng là công cụ bị cáo dùng để liên lạc với đối tượng mua ma túy tên “Hoa” nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [12] Đối với chiếc xe xe mô tô mang biển kiểm soát 16N1-7802 do Nguyễn Ngọc Q sử dụng đi mua ma túy hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là có căn cứ. [13] Đối với đối tượng tên “Hoa” liên hệ với Nguyễn Ngọc Q mua ma túy và đối tượng tên “Thắng” đã bán ma túy cho Nguyễn Ngọc Q, hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau là có căn cứ. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 03 (ba) năm (06) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/9/2024. 2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Q số tiền là 5.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm triệu đồng). 3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói của mẫu vật được dán kín niêm phong trong một phong bì giấy có dấu niêm phong số 1046MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Realme đã qua sử dụng. (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng). 4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Bị cáo Nguyễn Ngọc Q phải nộp 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. 6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận Hồng Bàng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an quận Hồng Bàng; - Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng; - Phòng PV06 - Công an TP. Hải Phòng; - Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hồng Bàng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. Nguyễn Thị Bình THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bình TM. HỘI ĐÔNG XÉT XỬ SƠ THÂM |